Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

"Tình sử Phùng Mộng Long" CHIẾC ÁO TRÂN CHÂU (tình báo) Lời người dẫn truyện. Bạn có lẽ đã biết Nguyễn Du nhà mình đã xử dụng đến trên 100 điển từ và điển tích trong Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu thơ của mình. Các câu chuyện tình trong Kiệt tác đa phần đều lấy trong "Tình sử Phùng Mộng Long" cả. Danh tác "Tình sử Phùng Mộng Long" có đến 24 loại hình truyện tình dàn trãi trong 804 câu chuyện ngắn có trong sách vở của Trung hoa còn lưu truyền lại. Ví dụ: như là câu chuyện nàng Chiêu Quân Cống Hồ đến Đá vàng, Chim Liền cánh, Cây liền Cành, Lam Kiều, Tiểu lân, Bố kinh vv.., Ngay cả câu Kiều “ Hoa đào năm trước còn cười gió đông “ chúng ta xưa nay cứ tưởng là Nguyễn Du đã lấy từ bài thơ ‘ Đề đô thành nam trang” của Thôi Hộ, thực ra bài thơ đó nằm trong câu chuyện tình mang tên “tình linh” Thôi Hộ; Tình linh là tình yêu đậm chất linh thiêng, mầu nhiệm. Chuyện kể về cuộc hôn nhân giữa tiến sĩ Thôi Hộ và cô bé 15 tuổi. Thường các câu chuyện tình trong "Tình sử Phùng Mộng Long" khá ngắn, có đan xem các bài thơ ngắn, thơ đa phần là dòng tứ tuyệt hay ngũ ngôn hay thất ngôn bát cú .. Lần trước tôi đã giới thiệu trên trong của nhóm " TÌNH TỰ DÂN TỘC " chúng ta một câu chuyện nàng Vân Anh, tức câu chuyện chàng trai Bùi Hằng đi tìm vợ . Thế nhưng lần đó tôi chỉ giúp bạn ta hình dung kết cấu một câu chuyện trong sách "Tình sử Phùng Mộng Long" mà thôi . Kết cấu này được theo sát khi mà Nguyễn Tứ viết sách Kim Vân Kiều lục để thể hiện lại các bài thơ được ghi lại trong câu thơ của Nguyễn Du tỉ như các câu 100 hay 203 vv…. Lần này, bạn ta sẽ thấy được sự tài hoa của người Trung quốc trong việc “bịa truyện“như thiệt’ của họ. Nguyễn Du của chúng ta có lẽ đọc "Tình sử Phùng Mộng Long" đến nhão thế nên khi thi tứ xuống, ông chợt nhớ và đưa vào câu thơ của mình một điển từ hay một điển tích một cách rất tự nhiên. Đọc riết thành quen, Nguyễn Du cũng là “Người Bịa chuyện tài hoa”; từ đó ta có những tình tiết bất ngờ, và cũng có khi khiến ta đau lòng trong Đoạn Trường Tân Thanh. Hạo Như là con trai trưởng của Nguyễn Du, cậu ta tuổi trẻ, cũng tài hoa không kém. Đọc đoạn Cậu hư cấu đoạn Hoạn Thư buộc tội Thúc Sinh đã có vợ bé mà không cần phải dài dòng như cha mình trong Đoạn Trường Tân Thanh dài dòng, hay trong Kim Vân Kiều truyện(.DMT), ông anh này vụng về ăn cắp ý tưởng thế nhưng thể hiện rất dài dòng . Kim Vân Kiều truyện(.DMT) , Duy Minh Thị kể Thúc Sô đi Lâm Tri về mách cho Hoạn Thư biết chồng nàng đã có “ đệ nhị phòng “ và lập tức bị Hoạn Thư vả miệng, bẻ răng cửa, đau muốn chết (Kiều 1561-1562 ). Ngụy khắc Đản cũng đã thể hiện áp sát Đoạn Trường Tân Thanh trong một đoạn tuồng trong sách tuồng Kim Vân Kiều của ông. Trong Kim Vân Kiều lục của Hạo Như, thì kể Thúc Sinh mới về thăm Hoạn Thư không bao ngày bỗng nhớ Kiều bèn đọc bốn câu thơ. Qua thơ này, Hoạn Thư “bắt ngay thóp “, “Thúc Sinh từ Lâm Tri đi về, quan sơn cách trở, nước cũ quê người, trăm điều khổ sở. Một hôm rượu say, ngâm thơ rằng: Viễn Phổ khứ lai đơn bạch hạc, Hàn Sơn thướng há nhất cô chu. Liêm tiền nguyệt lãng hoa sinh sắc, Vân ngoại na tri nguyệt lãng vô? Dịch nghĩa: Viễn Phố đi về chỉ mình hạc trắng, Hàn Sơn lên xuống chỉ một con thuyền. Trước rèm trăng sáng hoa tươi sắc, Còn trăng ngoài mây không biết có sáng không? Dịch thơ: Viễn Phố đi về mình hạc trắng, Hàn Sơn lên xuống một con thuyền. Ngoài mây nào biết trăng mờ tỏ, Trăng sáng hoa tươi sắc trước rèm. Hoạn Thư nghe thấy, nói: - Thơ này chẳng phải ngẫu nhiên đâu! Thúc Sinh giả bộ không hiểu, Hoạn Thư bảo: - Ngắm trăng trong trăng, lại có một vầng trăng nữa; biết thân ngoài thân, lại có một thân khác. Như thế là ưong trăng đã thêm bóng,trong vườn đã thêm hoa vậy. Thúc Sinh hỏi: - Nói như thế là thế nào? Nàng đừng dùng những lời vô căn cứ mà bắt bóng bắt gió. Hoạn Thư thầm biết chồng giấu giếm nên không đáp lại và cũng không nói tới chuyện đó nữa.” Câu cuối cùng đã cho thấy rồi sóng gió sẽ tới tấp khiến “Thúc sinh” thành người có nick name là Thúc Thủ &&& CHIẾC ÁO TRÂN CHÂU (Tình báo) . Tình báo là một loại tình “ bép xép “. Người trong cuộc mang kể điều hay dở thuật lại cho ai đó . Đất Sở (Hồ Nam) có người lái buôn, tuổi ngoài hai mươi, có người vợ tuyệt đẹp, vợ chồng yêu thương nhau lắm. Nhưng rồi chàng xuống miền Quảng Đông buôn bán lâu năm không về. Nhà chàng là một cái lầu ở gần chợ. Một hôm người vợ ngồi trên lầu, cách rèm trông ra, thấy một người con traigiỏi giang, giống mặt chồng lắm, mở rèm ra để nhìn. Nhưng khi biết là nhầm, thẹn thùng quay vào tránh mặt. Người con trai ấy quê ở Tân An, đến đây buôn bán đã hai năm. Bữa ấy thấy vị mỹ nhân trên lầu nhìn mình, chàng rất để tâm, bèn hỏi dò tên họ ở mụ bán ngọc trai tại phía đông chợ ây, nhân đút lót nhiều tiền bạc, nhờ mụ kiếm hộ kế gì để mình trêu ghẹo được. Mụ nói: - Già này đã biết, đó là một người đàn bà chính chuyên, không ai có thể phạm tới; vả cũng ít ai được tới gần để trông thấy mặt, tôi còn làm thế nào mà giúp cậu được! Người Tân An cứ khẩn cầu mái. Mụ nói: - Vậy thì đến quá trưa ngày mai, cậu nên mang nhiều vàng bạc đến cái hàng cầm ở đối cửa nhà mỹ nhân, rồi giao dịch với tôi một cách ì xèo. Làm cho tiếng động đến trên lầu, may ra nhờ thế mà tôi được mỹ nhân gọi lên hỏi về hàng họ thì hoạ còn có cơ hội. Nhưng cái kỳ cậu được gần gụi mỹ nhân thì tôi chưa ước hẹn đến bao giờ được. Người kia vâng dạ lui về. Mụ già nhân chọn ở trong túi hàng lấy những hạt trai rất lớn cùng những thứ trâm thoa quý báu, ngày hôm sau, đem đến cái cửa hàng trước lầu mỹ nhân, giả cách mua bán vđi người lái Tân An, soi những đồ châu ngọc ấy ở dưới ánh mặt trời, để xem tốt xấu. Người đi chợ cũng xúm vào xem ngó, tiếng cười tiếng nói om xòm. Quả nhiên mỹ nhân ngó cổ ra cửa sổ để nhòm và sai con nhài xuống gọi mụ đem hàng lên cho mình xem. Mụ thu xếp hàng hoá vào hộp mà nói: - Gớm! Cái nhà bác này mua bán cò kè quá. Nêu bán giá ấy thì hàng tôi bán hết đã từ lâu rồi. Nói xong đem hàng lên lầu, cùng mỹ nhân thi lễ. Sau những câu hàn huyên chiếu lệ, mụ giở hàng ra nói chuyện mấy câu, rồi lại vội xếp lại mà nói: - Già này có chút việc vội phải đi bây giờ, vậy xin mợ thư cho chốc nữa, già sẽ lại xin đem hàng đến nói chuyện. Nhưng mụ đi khỏi thì mấy ngày không trở lại nữa. Một hôm đương mưa, mụ bỗng đến mà nói: - Già này nhân có đứa con gái nó có chút việc, mấy ngày nay vì phải đi hộ hành nó, thành ra lỗi hẹn. Hôm nay trời mưa, già xin đem cả hàng đến để mợ xem. Đoạn giở hết các thứ hàng ở trong hộp ra. Nàng xem thấy toàn những đồ quý báu, tâm tắc khen ngợi. Rồi nàng tính giá từng món một để mua. Mụ mừng mà rằng: - Mợ tính giá như thế thật là đứng đắn, tôi không phải phàn nàn gì nữa. Không như cái người lái Tân An trả dìm giá quá, thật hoài cả hàng tốt cho hắn mặc cả. Nàng lại có ý muôn trả nửa tiền, còn một nửa chịu lại để đợi khi chồng về trả nốt. Mụ nói: - Được, chỗ láng giềng hàng xóm, mợ chịu tôi có ngại gì- Nàng đã thích mua được giá hời, lại mừng được chịu lại một nửa, bèn mời mụ ở lại ăn cơm, uống rượu. Mụ nói năng bẻo lẻo khôn khéo, nàng càng lấy làm ưa thích lắm. Ngủ chơi một đêm, sớm sau mụ lại ăn uống no say một bữa nữa mới về. Từ đây, ngày nào mụ không đến thì nàng thấy buồn. Mụ đối với nàng ngày càng thân, có khi đem những giọng tình để khêu gợi. Nàng đương tuổi trẻ, không khỏi có lúc tỏ lên trên nét mặt nỗi buồn gối lạnh chăn đơn. Nhân mời mụ năng đến ngủ với mình cho vui. Mụ cũng nói ở nhà ồn ào và thích nhà nàng tĩnh mịch, từ tối mai sẽ đem chăn gối đến ngủ. Từ hôm sau, nàng kê giường cho mụ nằm và mụ không tối nào không đến. Hai giường gần nhau, đêm đêm chuyện trò thủ thỉ, không còn phải giữ ý điều gì. Người lái Tân An thường xuyên đến hỏi mụ đã có thể gần nàng được chưa. Mụ vẫn nói là chưa thể. Đến độ mùa thu, chàng đến bảo mụ rằng: - Tôi bắt đầu nhờ cậy là khi lá liễu đương xanh, nay liễu đã úa vàng và sắp có hạt rồi. Nếu cứ lần lữa mãi thế này, e rằng mây trắng sẽ sắp trùm cành mất . Mụ nói: - Vậy thì đêm nay theo tôi đi, nhưng phải để ý cho lắm. Thành bại là ỏ một chuyến này. Nêu không thật là uổng phí nửa năm trời theo đuổi. Mụ bèn bầy kế dặn dò chàng. Trước nay, hôm nào cũng cứ tối mịt mụ mới đến nhà nàng. Tối hôm ấy, ngầm đem người Tân An cùng vào, bảo hãy tạm núp ở bên ngoài phòng ngủ. Mụ cùng nàng uống rượu trong phòng,nói cười vui vẻ. Mụ lại ép con nhài uống rượu; nó không quen uống nên say quá, đi nằm ngủ giúi một chỗ. Hai người đóng cửa uống rượu mãi, nên ai đã đều chếnh choáng say. Chợt có con thiêu thân bay vào ngọn đèn, mụ giả cách cầm quạt phẩy đuổi. Làm cho đèn tắt. Rồi mụ mở cửa để đi đốt đèn, nhưng lại cười nói: - Quên không lấy đóm. Kỳ thực trong lúc ấy, đã ngầm đưa người lái Tân An vào phòng. Một lát mụ ở ngoài trở vào, nói đêm khuya bếp tắt, thôi cũng không cần thắp đèn nữa, bèn đóng cửa lại. Nàng lên giường nằm, nhưng tính sợ tối, thỉnh thoảng lại gọi mụ, mụ nói: - Mợ nhát quá! Vậy thì để tôi cùng nằm chung với mợ một giường cho vui. Thừa lúc đó, mụ dẫn người Tân An vào màn, nhưng nàng vẫn tưởng lầm là mụ. Khi đã cùng nằm, nàng sờ thấy làn da trơn tru, hỏi thì người kia không nói, hắn trèo phắt lên mình nàng mà ôm ghì lấy. Nàng lúc ấy cũng đã tâm hồn rạo rực, chẳng còn chống cự gì nữa, để mặc cho ong cuồng kiếm nhị tìm hương... Mây tan mưa tạnh, nàng mới gạn hỏi xem người ấy là ai. Mụ kia bèn tạ tội với nàng, và kể tấm lòng ái mộ của người khách Tân An ấy. Nàng trót bén rồi không thể dứt được nữa, từ đó đôi bên quân quýt, yêu thương nhau hơn là vợ chồng. Trải gần một năm. Người Tân An tặng biếu nàng vàng bạc có đến hàng nghìn lạng. Một hôm, hắn cùng với bạn buôn sắp phải trở về, buồn rầu ứa nước mắt bảo với nàng rằng: - Sau khi xa cách, anh sẽ phải nhớ thương khổ lắm, xin cho một vật gì để được như là vẫn gần gặp nhau. Nàng bèn mở hòm, lấy ra một tấm áo trân châu, thân cầm mặc vào mình người khách Tân An mà nói: - Đi đường nóng bức, mặc áo này sẽ mát mẻ dễ chịu lắm, em xin tặng anh làm áo lót để lúc nào cũng như có em gần gụi bên mình. Người Tân An trân trọng từ biệt; hẹn sang năm lại đến, sẽ cùng đưa nhau đi nơi khác. Sau khi tương biệt, người kia quý mến tấm áo trân châu lắm, mặc luôn không lúc nào rời mình, nhiều khi thấy vật nhớ người lại ứa nước mắt. Năm ấy bận việc không đến được. Năm sau chàng lại xuống buôn ở Quảng Đông, tình cờ quen với người Sở (chồng nàng), cùng nhau chơi rất thân. Một hôm trong lúc vui chuyện, mỗi người cùng kể những câu chuyện giàu trong đời mình, người Tân An kể chuyện đã từng ở quê hương người Sở đã gặp một người đàn bà như thế... người Sở nghe nói giật mình. Nhưng còn vờ không tin mà nói: - Thế có gì để làm chứng không hay là nói bịa? Người Tân An phô cái áo trân châu và ứa nước mắt nói: - Đây, vật kỷ niệm của người yêu tôi tặng tôi. Nay mai bác về quê có tiện, làm ơn cho tôi gửi một bức thư thì hay lắm. Người Sở chối từ, bảo đó là người họ ngoại nhà tôi, tôi không tiện giúp bác đưa thư như thế. Người Tân An cũng hối là mình lỡ lời, cất áo và xin lỗi, người Sở bèn thu xếp hành trang về quê bảo với vợ rằng: — Tôi vừa về qua đằng nhà mình, mẹ mình ốm nặng, đương mong được gặp mình đấy, bởi vậy tôi đã thuê sẳn cái kiệu ở ngoài cửa, mình về ngay đi. Lại đưa cho vợ một bức thư mà rằng: - Đây là những điều liệu lý việc tang, mình đem về trình với nhạc phụ. Tôi mới về chưa thể đi ngay được, rồi sẽ sang sau. Người vợ đến nhà mẹ thì thấy mẹ vẫn như thường. Kinh ngạc mở thư ra xem, té ra trong đó là tờ giây ly hôn, đóng cửa khóc lóc không biết làm thế nào. Cha vợ đến nhà con rể để hỏi nguyên nhân. Con rể nói: - Ông về bảo nó hễ lấy về được cái áo trân châu thì vợ chồng sẽ lại xum họp. Cha về thuật lại, nàng mới rõ và hổ thẹn muốn chết đi được. Cha mẹ cũng không hiểu chỉ lấy lời an ủi vỗ về. Sau đó một năm, có vị Tiến sĩ ở Ngô Ttung. Xuống làm quan Quảng Đông, nhưng qua đất sở kén một người vợ lẽ, người mối đem nàng mách với vị Tiến si. Tiến sĩ xuất năm mươi lạng vàng lấy nàng làm thiếp. Người nhà nàng đưa tin sang nhà chồng cũ. Người chồng cũ kiểm soát buồng nàng thấy cả thầy lớn nhỏ mười sáu cái hòm, trong đó đều là những gấm vóc châu báu, sai trả lại nàng tất cả. Ai nghe thấy cũng đều phải lấy làm lạ. Chừng một năm nữa, người Sở (chồng cũ) lại xuống buôn bán ở Quảng Đông. Chẳng hiểu vì sự tính toán tiền, hàng với một người chủ hiệu ra sao mà đến cãi nhau rồi đánh nhau người chủ hiệu bị người Sở đánh một cái vào chỗ phạm chết ngay. Hai người con chủ hiệu đem việc ấy đi kiện mà viên quan sử kiện lại chính là vị Tiến sĩ. Tiến sĩ đêm khuya thắp đèn xem các án từ, người thiếp đứng hầu bên cạnh. Nàng liếc trông thấy tên họ của chồng cũ, khóc mà nói rằng: - Đó là người cậu của thiếp đấy. Nay không may can vào việc ấy, dám xin đại nhân cải tử hoàn sinh cho. Tiến sĩ nói: - Nhưng mà án sắp thành mất rồi. Nàng quỳ xuốhg kêu van khóc lóc. Tiến sĩ lại nói: - Thôi nàng cứ đứng dậy, để ta sẽ liệu. Sáng sớm hôm sau, nàng lại khóc mà nói: - Nếu việc ây đại nhân không cứu gỡ cho thì thiếp cũng khó lòng sống được. Tiến- sĩ bèn bảo với hai con của người thiệt mạng rằng: - Thương tích của cha các anh chưa được rõ rệt, giờ ta muốn cho mổ thi thể để lấy xương khám lại. Hai người con vôn nhà giầu có, nghĩ không nỡ để thi thể cha mình lại phải đem phơi giải, dập đầu nói việc cha mình đánh chết đã là rõ ràng lắm xin miễn cho sự lấy xương khám lại. Quan nói: - Nhưng thương tích không rõ thì lây gì mà định tội được? Hai người con vẫn cứ van xin; quan bèn dỗ: - Cha các anh, tuổi tác, chết cũng đã đáng đời rồi. Nay ta có một cách này, cũng đủ để các anh được hả, chẳng hay các anh có chịu nghe không? - Xin quan lớn cứ dậy. Chúng con xin nghe. - Nay ta bắt tên thủ phạm kia phải mặc đồ sô gai xổ gấu và nhận cha các anh làm cha, trong khi táng lễ, phải chống gậy khóc lóc cũng như các anh, như thế thì linh hồn của cha các anh cũng được thoả lắm. Hai người con kia đều dập đầu vâng mệnh. Quan lại hỏi đến người Sở. Người ấy mừng được thoát chết cũng xin tuân theo. Việc xong người thiếp xin được giáp mặt cậu. Đôi bên gặp nhau, cùng ôm nhau khóc lóc thảm thiết. Quan ngờ gạn hỏi ngọn ngành, mới biết rõ đó là đôi vợ chồng cũ; vì lòng bất nhẫn, bèn cho lại được về đoàn tụ và cho mang về cả mười sáu cái hòm ngày trước, sai hộ tống ra tận ngoài cõi. Người Sở bây giờ đã lấy vợ kế, vợ cũ về lại sẵn lòng ở vào địa vị thứ phòng. *

Không có nhận xét nào: