Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2008

MÌ QUẢNG , qua các báo

Mì Quảng
Mì quảng trên báo Saifgofn tiếp thi

Mì Quảng là món ăn đặc hữu quá phổ thông, quen thuộc không những với người địa phương mà còn cả khách vãng lai đã có lần ghé qua Đà Nẵng.
Thành phần cơ bản của mì Quảng gồm: mì, thịt (heo, bò, gà, vịt...), tôm, cá (lóc, thu, nhám...), trứng (gà, vịt, cút), đậu phộng rang, bánh tráng (đa), ớt, chanh, hành, tỏi... và đặc biệt không thể thiếu các loại rau ăn kèm (xà lách, cải con, giá sống, bắp hoặc thân chuối sứ...). Tất cả thành phần này thường có đầy đủ trong một quán mì Quảng "bậc trung", và tùy theo sở thích khách ăn sẽ được phục vụ nhiều hay ít các món trong cùng một tô mì. Hai điểm độc đáo của mì Quảng là chỉ dùng nước mắm nguyên không pha thêm chanh, tỏi, đường... và ớt xanh nguyên trái không
thái lát mỏng.
Phân tích về dinh dưỡng học cho thấy tô mì Quảng đúng là cả một khẩu phần ăn hợp lý được thu nhỏ lại. Trong tô mì đầy đủ bốn thành tố của bữa ăn tốt: chất bột (mì, bánh tráng), chất đạm (thịt, cá) chất béo (dầu, mỡ, trứng) chất khoáng và vitamin (các loại rau ăn kèm). Về tính bắt mắt và khẩu vị, theo tôi, mì Quảng cũng thuộc loại "xuất sắc". Theo cách nói của giáo sư Trần Văn Khê thì chúng ta sẽ thưởng thức món mì Quảng bằng cả ngũ quan. Mắt nhìn nhiều màu sắc: trắng của mì, đỏ của ớt, cà chua, xanh tươi của rau. Mũi ngửi được hương thơm của thịt, đậu phộng rang... Lưỡi nếm lắm mùi vị: ngọt, bùi, béo, cay, chua.... Miệng nhai thấy mềm, cứng, dai, dẻo. Tai nghe nhiều âm vui: tiếng bẻ bánh tráng gãy giòn tan, tiếng vỡ sào sạo của đậu phộng.
Ưu điểm lớn nhất của mì Quảng là tính phổ biến và dân dã của nó; hầu như tất cả mọi nơi, các bà nội trợ vùng Quảng Nam, Đà Nẵng đều biết và đã từng nấu được món mì Quảng cho bữa ăn gia đình. Thuận lợi thứ hai của mì Quảng là tính linh hoạt, tùy thực phẩm kèm theo có được có thể chế biến nhiều loại mì khác nhau: mì Quảng gà, mì Quảng bò, mì Quảng sứa... và cả mì Quảng chay dùng cho ngày rằm, đầu tháng.





Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành. Xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng.Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhân bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhân cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp.Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi, xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt.Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở.Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô.Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất phải đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, phường 12, quận Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu.(Theo Sài Gòn Tiếp Thị

Đã thèm tô mì Túy Loan
23/06/2007



Ở đôi bờ sông Tuý, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, dọc QL14B cũ và QL14B mới, rồi cả những đường thôn ngõ xóm, quán ăn nào cũng treo bảng bán mì Quảng. Mì Quảng quán nào cũng ngon, nhưng hơn hết là mì Bà Tỉnh ở gần cầu Giăng - "linh hồn" của mì Quảng Tuý Loan.
Mì Bà Tỉnh có sức hút không chỉ vì quán có truyền thống gần 100 năm, với bí quyết riêng về các công đoạn làm bánh tráng, tráng mì... mà còn ở chất lượng và giá hợp túi tiền với đủ loại khách hàng. Tô mì ngon nhờ nhưn chế biến từ thịt mông con bò vừa tơ. Nước lèo cũng hầm từ xương bò này và nêm đủ loại gia vị vừa ngọt vừa thơm. Đậu phộng (lạc) chọn mẻ không để lâu trên một mùa, rang lửa than vừa đủ độ để giữ chất bùi bùi, mằn mặn của đậu. Rau sống dùng kèm phải chín loại, từ cây cải non đương nụ, cọng giá trắng tinh, rau muống non xanh chẻ nhỏ, lá hành chọn nơi gần củ có màu đậm, xà lách chọn lá xanh lợt… cho đến ngò ta xắt dài để ngọn, tất cả trộn đều với bắp chuối chát xắt mỏng như tơ - thấy đã thèm.

Sợi mì mỏng làm từ gạo xiệc chính gốc Đại Hiệp - Đại Lộc - Quảng Nam, ăn vừa có độ dai, vừa bùi mới ngon. Tô mì Bà Tỉnh chỉ 7.000đ cùng cái bánh tráng đặc sản vùng quê bên bờ sông Tuý. Cũng từ lò bánh tráng nhà bà Tỉnh mà ra, thơm lựng, giòn tan. Khách ở xa, sau khi ăn mì thường mua vài chục bánh tráng mang về làm quà.
Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh. Ngày lễ tết, người dân dưới phố, bà con khắp nơi ngang qua Tuý Loan, đi viếng mộ ở nghĩa trang Gò Cà; thăm viếng người thân, bạn bè… vẫn để bụng ăn tô mì Quảng. Theo anh Nguyễn Đại Minh - truyền nhân đời thứ ba, hiện là chủ quán mì Bà Tỉnh cho biết, bình quân mỗi ngày bán 150 tô, chủ nhật lên đến 600 tô, còn những ngày tết thì trên cả ngàn là thường. "Nhà mình một năm chỉ nghỉ bán ngày ba mươi để rước ông bà, còn lại bán suốt".

P03

Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành, xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng. Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhưn bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhưn cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp. Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi; xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt. Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở. Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô. Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, P.12, Q. Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu. Theo SGTT

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2008

Diễn văn của Brustus và Antony

DIỄN VĂN CỦA BRUTUS VÀ ANTONY
(trích trong vở “ Julies Ceasar”)
William Shkespeare (1564 – 1616)
Lê Bá Kông dịch

Lời giới thiệu: Sau cuộc viễn chính tại Tây Ban Nha ,Ceasar, vị tướng La Mã, ca khúc khải hoàn trở về quê hương . Ông được lòng mến yêu của phần đông, dân La Mã, nhưng vì tham vọng ngày một tăng của ông, nên có một nhóm thượng nghị sĩ đứng đầu là Brutus và Cassius âm mưu trừ khủ ông ấy, chỉ vì họ nghĩ tới nền Tự Do.
Caesar bị hạ sát ngay tại nghị viện.Khi nghe tin về cái chết của ông, dân La Mã nổi lên giữa sự phẩn nộ , đòi nhóm mưu thần kia phải giải thích về hành động của họ.
Đọan trích diễn sau đây sẽ cho ta thấy thế nào là sức mạnh của lời nói để ảnh hưởng tới quần chúng, và đồng thời, nó sẽ cho ta dịp thưởng thức và ngợi khen thiên tài của William Shkespeare thi sĩ kịch gia vĩ đại nhất trong các thế hệ.
LÊ BÁ KÔNG

+++
Brutus: Hãy kiên nhẫn tới cùng
Hỡi dân La Mã, hỡi đồng bào và các bạn thân yêu ! Hãy nghe tôi vì chính nghĩa của tôi, và hãy im lặng để các bạn có thể nghe được : hãy tin tôi vì danh dự tôi và hãy tôn trọng danh dự tôi để các bạn có thể tin được tôi: hãy phê phán tôi bằng trí thông thái của các bạn để có thể phân định sáng suốt hơn. Có ai chăng giữa đám đông này, các bạn thân mến nào của Ceasar , đối với bạn đó tôi xin nói là tình yêu của Brutus này đối với Ceasar chẳng kém gì tình yêu của bạn đó đối với Ceasar đâu. Vậy nếu bạn đó hỏi tại sao Brutus lại nổi lên chống lại Ceasar, thì đây là câu trả lời của tôi : - Không phải tôi kém yêu Ceasar, nhưng tôi yêu La Mã hơn, các bạn muốn Ceasar, và bạn chết làm nô lệ cả không; hay là các bạn muốn rằng Ceasar chết để các bạn sống làm người tự do ? Vì Ceasar yêu tôi, tôi khóc Ceasar. Khi Ceasar gặp vận may tôi mừng cho ông ấy . Vì Ceasar anh dũng, tôi kính ông ấy; nhưng, vì Ceasar có tham vọng , tôi giết Ceasar. Đây, lệ để đáp lại tình yêu của Ceasar, niềm hân hoan để đáp lại vận may của Ceasar, lòng kính trọng trước chí khí anh dũng của Ceasar; nhưng tôi đã đưa cái chết cho Ceasar để đáp lại tham vọng của ông ấy. Ai đây đê tiện đến nổi muốn làm nô lệ ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đây lỗ mãng; đến nổi không muốn làm một dân La Mã ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đấy đê tiện đến nổi không yêu nước ? Nếu có ai chăng , hãy nói đi, vì đối với người đó tôi đã có lỗi. Tôi tạm ngừng để đợi câu trả lời.
Đồng thanh : Không ai cả. Brutus, không ai cả !
Brutus: Vậy tôi đã không xúc phạm tới ai cả .Tôi đã không xử với Ceasar quá điều các bạn có thể xử với Brutus tôi đây. Cái chết của Ceasar được ghi trong nghị viện ; sự vinh quang của ông ấy không bị giảm đi , vì ông ấy đáng với nó lắm ; cái lỗi của ông ấy không bị tăng lên , mà vì nó ông ấy đền bằng cái chết của ông ấy.

(Antony và các người khác vào, mang theo xác Ceasar)

Đây là thi hài ông ấy, có Mark Antony than khóc; tuy Mark Antony không nhúng tay vào vái chết đó, ông ấy cũng sẽ , vì cái chết của Ceasar, được một địa vị trong nền Cộng hòa , mà ai trong các bạn lại không được ? Trước khi tôi đi, tôi muốn thêm câu này – vì tôi đã giết người thân mến nhất của tôi chỉ vì sự lợi ích cho La Mã , vậy tôi vẫn dành cùng con dao găm này cho chính tôi, khi nước tôi cần tới cái chết của tôi.
Đồng thanh : Muôn năm, Brutus ! muôn năm, muôn năm !
Công dân thứ I . Hãy rước ông ấy về nhà một cách vẻ vang
Công dân thứ II. Hãy dựng một pho tượng cho ông ấy cùng tổ tiên ông ấy.
Công dân thứ III. Hãy tôn ông ấy là Ceasar
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy dành các ưu quyền của Ceasar cho Brutus
Công dân thứ I . Ta sẽ rước ông ấy về nhà

Với tiếng hò reo và hoan hô

Brutus: Hỡi đồng bào…
Công dân thứ II: Im, hãy im lặng! Brutus nói.
Công dân thứ I :Nào, hãy im lặng !
Brutus: Hỡi đồng bào yêu quí, hãy để mặc tôi một mình và vì tôi, hãy ở lại đây với Antony: hãy tôn kính thi hài Ceasar và hãy tôn trọng bài điếu văn của Antony, nêu cao sự vẻ vang của Ceasar, mà Mark Antony được phép của chúng tôi cho đọc. Tôi khẩn khỏan xin các bạn đừng một ai đi khỏi nơi đây, trừ tôi ; các bạn hãy ở lại cho tới khi Antony đã nói xong.
Công dân thứ I : Hãy ở lại ! ta hãy nghe Mark Antony.
Công dân thứ III: Hãy để ông ấy bứoc lên diễn đàn công cộng ; ta muốn nghe ông ấy. Antony cao quý hãy bứoc lên.

Antony: Vì Brutus , tôi xin cám ơn các bạn.
(Bước lên diễn đàn

Công dân thứ IV: Chàng ta nói gì đến Brutus đấy ?
Công dân thứ III: Ông ấy nói, vì Brutus, ông ấy thấy ông ấy hàm ơn cả bọn ta
Công dân thứ IV: Tốt hơn lão ấy đừng nói gì phạm tới Brutus ở đây
Công dân thứ I : Lão Ceasar này là một tên bạo chúa.
Công dân thứ III: A, cái đó thì chắc hẳn rồi. Ta có phúc mà thành La Mã trừ khử được hắn.
Công dân thứ II: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe Antony có thể nói được gì
Antony: Hỡi dân La Mã yêu quý.
Các công dân: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe ông ấy.
Antony: Hỡi các bạn, hỡi dân La Mã , đồng bào, hãy nghe tôi ; tôi tới đây để an táng Ceasar, chứ không phải để khen ông ấy . Điều ác con người làm ra sống sau khi họ đã khuất, nhưng điều thiện thì tường bị chôn vùi với xương họ : trường hợp của Ceasar cũng vậy.
Brutus cao quý vừa nói với các bạn rằng Ceasar có tham vọng, nếu quả vậy, thì đó là một điều nhằm lắm, và Ceasar đã trả sự nhầm đó với một giá quá cao.
Được phép của Brutus và các vị khác – vì Brutus là một người cao thượng , và tất cả các vị đó đều là người cao thượng cả - tôi tới đây để vài lời trong đám tan Ceasar. Ông ấy là bạn tôi, trung thành và công bình với tôi ; nhưng Brutus nói rằng ông ấy tham tàn va Brutus là người cao thượng.
Ceasar đã mang nhiều tù binh về thành Rome, tiền chuộc tù binh đó đã đổ đầy công quỹ ; hành động này của Ceasar có gì tham tàn không ?
Khi dân nghèo khóc, Ceasar đã nhỏ lệ : lòng tham vọng phải làm bằng chất cứng rắn hơn, thế mà Brutus nói rằng ông ấy có tham vọng, và Brutus lại là một vị cao thượng.
Quý bạn đều đã thấy rằng vào ngày Lễ Bình, ba lần tôi dâng ông ấy chiếc vương miện, mà ba lần ông ấy khước từ : thế có là tham vọng không ? Tuy vậy, Brutus nói rằng Ceasar có tham vọng, và chắc hẳn Brutus là một vị cao quý.
Tôi nói đây không phải là để gièm pha những lời Brutus đã nói, nhưng thấy cần phải nói những điều tôi biết.
Các bạn đều đã có lần yêu mến Ceasar , không phải là không lý do : vậy vì lý do gì quý bạn cầm lòng không khóc Ceasar ?
Than ôi ! Công lý ! mi đã đào tẩu cùng vói loài lang sói cả, và con người đã mất cả lý trí của họ. Xin lỗi các bạn, tim tôi lúc này nằm trong linh cữu kia cùng với Ceasar, và tôi phải tạn ngừng cho tới khi nó trở lại với tôi.
Công dân thứ I : Ta thiết nghĩ lời nói của anh ấy nghe được đấy
Công dân thứ II : Nếu anh xét cặn kẽ việc này , anh sẽ thấy là Ceasar cũng có điều dở lắm
Công dân thứ III :Thưa các bạn, thế à ? Tôi e rằng sẽ có người tệ hơn thay vào chỗ ông ta.
Công dân thứ IV: Anh có để ý đến lời nói của Antony không ? Ceasar không chịu nhận vương miện, vậy thì hiển nhiên ông ấy không tham vọng.

Công dân thứ I : Nếu vậy thì có kẻ phải đền lỗi đó với một giá cao đấy.
Công dân thứ II: Thương hại quá ! Mắt Antony đỏ như lữa vì than khóc
Công dân thứ III: Khắp Rome không ai cao thượng bằng Antony
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy nghe, ông ấy lại bắt đầu nói.
Antony: Nhưng mới ngày hôm qua, lời nói của Ceasar có lẽ đã chấn động thế giới , bây giờ ông ấy nằm kia kìa , và không ai cả, dù kẻ hèn mọn, tỏ lòng tôn kính ông ấy.
Hỡi các bạn, nếu tôi có ý định khích động tâm hồn khích động để nổi lọan , tôi sẽ có lỗi tới Brutus và Cassius, mà như các bạn biết là những vị đáng kính cả . Tôi không muốn xúc phạm tới họ đâu. Chẳng thà tôi phạm tới kẻ chết, xúc phạm chính vì tôi và các bạn , hơn là phạm tới các vị đáng kính như thế . Nhưng đây là một văn kiện có dấu triện của Ceasar tôi kiếm thấy trong phòng riêng của ông ấy, đó là chúc thư của Ceasar : Công chúng mà cứ nghe bản chúc thư này thôi xin lỗi các bạn – tôi không có ý định đọc nó đâu – họ sẽ tới hôn những thương tích của Ceasar quá cố và nhúng khăn tay của họ vào máu thiêng liêng của Ceasar, hơn nữa họ còn xin một sợi tóc của ông ấy để làm vật kỷ niệm và khi chết, sẽ ghi nó rong chúc thư của họ , coi nó là một di vật quý giá di truyền lại cho con cháu họ.
Công dân thứ IV: Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư : hãy đọc nó đi , Mark Antony !
Mọi người : Bản chúc thu, bản chúc thu ! Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư .
Anttony: Hãy kiên nhẫn các bạn thân mến, tôi không đọc nó đâu, tốt hơn các bạn không nên biết Ceasar yêu các bạn như thế nào.
Các bạn không là gỗ, các bạn không là đá, nhưng là người và vì các bạn là người, khi nghe bản chúc thư của Ceasar, nó sẽ làm bốc lửa căm hờn của các bạn, nó sẽ làm các bạn nổi điên lên. Tốt hơn các bạn không biết các bạn là kẻ thừa kế của Ceasar , vì nếu bạn biết, than ơi ! Sự thể ra sao ?
Công dân thứ IV: Hãy đọc bản chúc thư, Antony , chúng tôi nghe nó, ông phải đọc bản chúc thư cho chúng tôi , chúc thư của Ceasar
Antony : Xin các bạn hãy kiên tâm ! Các bạn hãy đợi chút nữa ! Tôi đã quá đà khi nói cho các bạn biết về bản chúc thư đó . Tôi e rằng tôi xúc phạm tới các vị cao quý mà dao găm của họ đã đâm Ceasar, tôi sợ lắm.
Công dân thứ IV: Bọn chúng là quân phản quốc : cao quý gì chúng !
Đồng thanh: Bản chúc thư ! Chúc thư !
Antony: Vậy các bạn nhất định buộc tôi đọc bản chúc thư à ? Hãy đứng xung quanh thi thể của Ceasar , và để tôi cho các bạn thấy người đã lập bản chúc thư đó . Tôi bước xuống nhé. Và các bạn có cho phép tôi không ?

Dăm sáu công dân: Xuống đi .
Công dân thứ II: Hãy bước xuống
Công dân thứ III: Bạn được phép

(Antony bước xuống)

Công dân thứ IV:Một vòng tròn ; hãy đứng chung quanh
Công dân thứ I: Đứng khỏi linh cữu, hãy đứng xa khỏi thi thể
Công dân thứ II: Hãy dành chỗ cho Antony, Antony cao thượng nhất.
Antony: Này, các bạn đừng chen tôi như thế, hãy đứng xa ra.
Dăm sáu công dân: Đứng lùi lại ; hãy dành chỗ ; lùi lại .
Antony: Nếu bạn có nước mắt, bây giờ hãy sửa soạn nhỏ lệ đi. Các bạn đều biết áo khóac này chứ. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ceasar khóac nó , đó là vào một buổi chiều mùa hạ, trong doanh trại ông ấy ; ngày ông ấy thắng quân Nervii.
Hãy nhìn chính nơi đây dao găm của Cassius đã đâm qua : trông kìa, thằng Casca ghen tị đã đâm một vết ghê chưa . Qua chỗ này, Brutus yêu quý đã đâm ; và trong khi ông ấy rút đọan thép đáng nguyền rủa kia ra , trông kìa, máu của Ceasar theo nó ra, như vôi vàng chạy ra khỏi cửa để muốn biết rằng có phải Brutus đã làm một cách tàn nhẫn đến thế hay không ? Vì Brutus, như các bạn biết , là thiên thần của Ceasar . Hỡi thần thánh, hãy chứng minh Ceasar yêu Brutus đến thế nào !
Đây là vết đâm ác liệt nhất trong tất cả , vì khi Ceasar trông thấy ông ấy đâm, thì sự vô ơn, mãnh liệt hơn cả cánh tay quân phản bội, đã hòan tòan đánh quy Ceasar ; thế rồi trái tim dũng cảm của ông ấy đã tan nát, và với áo khóac này, ông ấy đã phủ kín mặt ngay ở chân pho tượng Pompey đây, trong khi máu chảy lai láng Ceasar vĩ đại đã ngã gục.
Than ôii ! Hỡi đồng bào, thật là sự sụp đỗ tan tành ! Rồi tôi, các ban, và tất cả chúng tâ sẽ ngã quỵ, trong khi sự phản bội đẫm máu tung hoành trên ta.
À , bây giờ các bạn khóc ; và tôi thấy các bạn cảm thấy lòng thương lên tới tột bực ; đây là các giọt lệ quý hóa lắm . Các bạn nhân từ, sao các bạn đã khóc khi chỉ mới trông thấy chiếc áo Ceasar bị thương tổn ? Hãy nhìn đây, đây mới chính là người đã bị quân phản bội xâu xé
Công dân thứ I: Thật là cảnh tượng đau lòng !
Công dân thứ II: Hỡi Ceasar uy linh
Công dân thứ III: Quân phản bội, quân điểu giả !
Công dân thứ I: Thật là cảnh đẫm máu nhất !
Công dân thứ II: Chúng tôi sẽ nhất quyết báo thù .
Đồng thanh : Báo thù ! Hãy đi kiếm chúng nó ! Hãy đốt ! Giết ! Đừng để một tên phản bội nào sống sót.
Antony: Hỡi đồng bào,hãy khoan
Công dân thứ I: Im lặng ! Hãy nghe Antony đáng kính.
Công dân thứ II: Ta quyết nghe ông ấy, theo ông ấy và chết cùng ông ấy .
Antony: Hỡi các bạn thân mến , hỡi các bạn yêu quý ! Đừng để tôi khích thích các bạn nổi loạn một cách đột nhiên như thế này. Các vị đã gây ra hành động này đều là đáng kính cả : thật quả tôi không hiểu vì mối tư thù gì đã khiến họ có cử chỉ như vậy. Họ là những người thông thái và cao quý , và chắc chắn , sẽ dẫn ra nhiều lý do để giải đáp với các bạn.
Hỡi các bạn , tôi không đến đây để thu phục lòng các bạn. Tôi đâu có phải là nhà hùng biện như Brutus , nhưng như các bạn đều biết , tôi chỉ là người chất phác cục cằn có lòng yêu bạn mình thôi, và điều đó họ biết lắm nên mới cho phép tôi nói giữa công chúng về bạn tôi. Tôi khôn khéo thì không, lời nói kém, sức mạnh, hành động, gịong nói, và cả đến tài hùng biện cũng không có để mà khích động nhiệt quyết của thính giả . Tôi chỉ nói thẳng thắn thôi ; nói với các bạn những điều mà chính các bạn cũng đã biết ; tôi cho các bạn thấy các vết thương của Ceasar, các vết thương đó là những cái miệng câm đáng thương quá , và tôi đã nhờ nó nói giùm tôi. Nhưng giả thử tôi là Brutus, và Brutus lại là Antony, lúc đó sẽ có một chàng Antony làm tâm hồn các bạn nổi xung, và y sẽ gắn từng cái lưỡi vào các thương tích của Ceasar để khích động đến các tảng đá của thành Rome cũng trổi dậy làm loạn.
Đồng thanh: Ta quyết nổi loạn !
Công dân thứ I : Ta hãy đốt nhà của Brutus.
Công dân thư III: Vậy thì ta hãy đi nào ! Đi kiếm bọn mưu sĩ đó !
Antony: Hỡi đồng bào, hãy nghe tôi ; hãy nghe tôi nói đã !

Đồng thanh: Im lặng ! Hãy nghe Antony cao quý nhất !
Antony: Sao đấy các bạn, các bạn đi hành động mà không biết vì lý do gì : Vì gì ma Ceasar đáng được lòng luyến ái của quý bạn như thế này ? À, các bạn không biết ; vâỵ , tôi phải nói cho các bạn hay . Các bạn đã quên bản chúc thư tôi vừa nói với các bạn .
Đồng thanh: Thật vậy ! Bản chúc thư ! Ta hãy ở lại nghe bản chúc thư .
Antony: Đây là bản chúc thư, và có cả dấu triện của Ceasar đóng lên.Ông ấy tặng cho các công dân Rome, chẳng trừ ai , mỗi người bảy mươi lăm đồng bạc.
Công dân thứ II: Ceasar cao thượng nhất ! Ta quyết báo thù cái chết của ông ấy.
Công dân thứ III: Ceasar vĩ đại !
Antony: Hãy kiên nhẫn nghe tôi.
Đồng thanh: Im lặng !
Antony: Hơn nữa, Ceasar đã để lại cho các bạn tất cả những lối đi trong vườn hoa ông ấy, các hàng cây thuộc tư thất ông ấy và cả những vường quả mới trồng ở bên bờ sông Thái Bình này ; ông ấy đã để lại tất cả cho các bạn , và cho con cháu các bạn để hưởng đời đời , những nơi giải trí công cộng để các bạn đi dạo chơi và tiêu khiển. Đấy , ta đã có một vi Ceasar như thế ! Bao giờ mới lại có một vị như vậy nữa ?

Công dân thứ I: Không bao giờ, không bao giờ. Nào, chúng ta hãy đi ! Ta hãy làm lễ hỏa táng cho Ceasar ở nơi thánh trường và với các thanh củi cháy đó, ta sẽ đốt nhà bọn phản bội. Hãy rước xác Ceasar.

Công dân thứ II: Đi kiếm lửa.
Công dân thứ III: Phá những ghế dài.
Công dân thư IV: Phá ghế, cửa sổ, bất cứ cái gì.

( Các công dân rước thi thể ra )

Antony: Bây giờ , tung hoành đi, Ác thần ! Mi được tự do rồi muốn làm gì thì làm !

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2008

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2008

Tản Mạn về bài thơ của Cao Bá Quát

Tản Mạn về bài thơ của Cao Bá Quát
laiquangnam


Bài thơ “Du Hội An Phùng Vị Thành Ca Giả” của Cao Bá Quát, người viết xin lạm bàn đôi điều về bài thơ để trao đổi cho nhau - LQN

Cao Bá Quát
高 伯 适

Tiểu sử

Cao Bá Quát (1808 - 1855) là nhà thơ xuất sắc của Việt Nam thế kỷ 19. Ông tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, Cúc Dương, quê làng Phú Thọ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Cao Bá Quát cùng người anh song sinh là Cao Bá Đạt nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Thân sinh của hai ông là Cao Cửu Chiêu, một nhà nho hay chữ, có ước vọng khi lớn lên, các con mình sẽ trở thành quan đại thần của triều đình nên lấy tên của hai học sĩ đời Chu cũng là hai anh em sinh đôi để đặt tên cho hai con.
Lưu truyền rằng Cao Bá Quát thường nói: Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi và bạn tôi, Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, còn bồ thứ tư chia cho mọi kẻ khác.
Năm 1832, ông đi thi Hương, đỗ á Nguyên tại trường thi Hà Nội, sau đó vào kinh đô (Huế) thi Hội, nhưng thi mãi không đỗ . Năm 1841, nhờ sự tiến cử của quan tỉnh Bắc Ninh, Cao Bá Quát được vào kinh đô nhậm chức Hành Tẩu Bộ Lễ. Tuy làm quan, cuộc sống của ông cũng hàn vi.
Tháng 8-1841, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy. Ông cùng người bạn lấy muội đèn chữa giúp. Việc bị phát giác, đáng lẽ ông bị xử chém, nhưng sau được xét lại chỉ bị cách chức, bị tù ba năm, phát phối đi Đà Nẵng. Về sau nhân có Đào Tri Phủ đi sứ sang Indonesia, ông được tha và được cử theo phái đoàn phụ tá công việc. Trở về nước, ông được khôi phục chức cũ, một thời gian rồi bị thải. Năm 1847, Cao Bá Quát được gọi vào làm việc ở Viện Hàn Lâm, sưu tầm văn thơ. Hồi ấy, Tùng Thiên Cộng lập ra Mạc Vân thi xã, được nhiều quan văn trong triều tham gia, hưởng ứng.
Còn người đương thời thì tôn gọi ông là Thánh Quát (cùng với Nguyễn Văn Siêu là Thần Siêu, Thánh Quát). Vì hay châm biếm vua và triều đình nên ông bị đẩy khỏi kinh đô (1850) ra làm giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây, một vùng heo hút, nghèo nàn.
Tại đây, chứng kiến những nỗi cơ cực của nhân dân, thông cảm với sự bất bình của đại chúng, ông đã bí mật kết giao với nhiều bạn bè, dựng cờ khởi nghĩa ở đất Mỹ Lương (1854). Nghĩa quân lấy danh nghĩa phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, chống lại triều đình. Song cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài được mấy tháng thì bị dập tắt. Cao Bá Quát bị viên suất đội Đinh Thư Quang bắn chết giữa lúc ông đang ở trận tiền. Nhà Nguyễn đã trả thù, tru di ba họ của ông. Các tác phẩm của ông đều bị cấm tàng trữ, thu hồi và đốt hết.
Những cố gắng sưu tầm sau này đã thu thập được trên một nghìn bài thơ, phú bằng chữ Hán và chữ Nôm của ông. Thư viện Khoa học Xã hội Việt Nam hiện có trên 12 tập mang tên Cao Chu Thần thi tập, Mẫu hiên thi loại, Cúc Đường thi thảo, v.v. Nhiều bài thơ chữ Hán, thơ ca trù và bài phú Tài tử đa cùng của ông, được nhiều thế hệ thuộc lòng.
Trước đây, nhiều người cho rằng Cao Bá Quát là một người khinh bạc, kiêu ngạo và nhất là có giấc mộng đế vương. Nhưng tác phẩm của ông, không hề thấy một tư tưởng hay một phong cách nào như thế ! Nói đến tình quê hương, tình bè bạn, nghĩa vợ chồng, Cao Bá Quát lúc nào cũng chân tình tha thiết.Những câu thơ như “Ba hồi trống giục mồ cha kiếp v.v.” Ba vòng dây sắt bước thì vương v.v. cũng đều là những câu chuyện gán ghép vì sẵn mối cảm tình với ông mà tưởng tượng ra.
(Phần này Tiểu sử này, Trích lại từ bài viết của Giáo sư văn học Ngọc Khánh, laiquangnam xin cám ơn Giáo sư )

***
Laiquangnam giới thiệu và dịch thơ bài “Du Hội An phùng 1Vị thành ca giả “ của Cao Bá Quát

Bài thơ “Du Hội An phùng 1Vị thành ca giả”, “Chơi Hội An gặp người ca sĩ Vị Thành “(thành Nam Định) bài được sáng tác trong bối cảnh Cao Bá Quát vừa mới phục hồi con đường hoạn lộ, sau giai đoạn tù tội vì sửa bài thi... do vì ông tiếc tài năng của một thí sinh tài hoa lỡ phạm trường quy ác nghiệt của triều Nguyễn thời ấy. Vào thời điểm này, Ông chờ điều về làm việc ở Viện Hàn Lâm .

***
Cao Bá Quát
高 伯 适

Nguyên Tác
(của Viện Văn học Hà Nội )

遊 會 安 逢 洧 ,城 A歌 者

共 歎 相 逢 晚
相 逢 是 客 中
管 絃 今 夜 月.
鄕 國 幾 秋 風
淚 盡 樽 仍 醁
心 灰 燭 自 紅
舊 遊 方 落 落
一 曲 莫 辭 終
高 伯 适


I.- Phiên âm của Viện Văn học Hà Nội
Du Hội An phùng 1Vị thành ca giả

1. Cộng thán tương phùng vãn,
2. Tương phùng thị khách trung.
3. Quản huyền kim dạ nguyệt,
4. Hương quốc kỷ thu phong.
5. Lệ tận tôn nhưng lục,
6. Tâm hôi chúc tự hồng,
7. Cựu du phương lạc lạc,
8. Nhất khúc mạc từ chung!

Xin tạm dịch nghĩa
Chơi phố Hội An, gặp người đào hát thành Vị (Nam Định)
1. Cùng than gặp nhau đâ muộn
2. Cùng gặp tại đất khách
3. Sáo đàn trăng đêm nay
4. Quê hương mấy độ gió thu
5. Lệ cạn ,bình rượu còn
6. Lòng tắt, đèn vẫn sáng
7. Bạn cũ mất dần dần
8. Chớ từ một khúc trọn
Chú Thích
01. - (nhóm chủ biên Vũ Khiêu) dịch nghĩa câu 8 “Nhất khúc mạc từ chung!” là “Hẹp chi mà không cho nghe trọn khúc hát !” đó là lời chú khi dịch nghĩa. Nhóm Vũ Khiêu có chú rằng: “Không nệ chữ nào nghĩa ấy, cố gắng Việt hóa câu văn, sao cho câu văn ngắn gọn mà không sai ý nguyên văn”. Tuy nhiên dịch nghĩa như thế có thể khiến khách thơ nghĩ rằng” Cao bá Quát có ý trách người đào hát không cho nghe trọn khúc hát. Cô tiếc chi khúc hát! Thật ra câu 8 “Nhất khúc mạc từ chung” xin tạm dịch “Chớ từ một khúc trọn”, có thể nghĩ rằng là trong đêm nay ta tiếc chi mà không gộp chung các nổi buồn lại và uống cho say, cho lãng quên đời. Ta tự trọn vẹn với lòng ta vậy. Cho nên laiquangnam nghĩ nó có “hai chủ ngữ” cùng lúc .
02.- Vị thành thuộc tỉnh Nam Định, nơi đây có sông Vị Hoàng chảy qua
03.- Hai chữ cộng, tương, nhất là những mắt thơ .
04.- “Tâm hôi chúc tự hồn”, chữ hồng còn nghĩa màu hồng, nghĩa ở bài là đốt cháy

II.- Lời bình ý thơ

Tiền khổ (1,2,3,4), nơi chốn gặp nhau đã báo hiệu một nỗi niềm cay đắng, nôn nao muốn biết chuyện quê nhà cũng không được bởi bối cảnh gặp nhau lại là một đêm vui ở quê người . Thi nhân chỉ còn biết than thở cho cuộc gặp. Đúng là “là nước mắt dành cho ngày gặp mặt “

Hậu khổ (5,6,7,8):Ý thơ hai câu (5,6 )lại ẩn chứa những uẩn khúc kỳ lạ trong lòng thi nhân Cao Bá Quát, rất khác với tâm tình ước lệ của hàng tỉ tỉ thi nhân xưa nay “rượu cạn tình chưa hết, bấc tàn còn nói mãi chưa xong”, còn ông thì ngược lại. Trong ông sao mà có quá nhiều nghịch lý, nghịch cảnh .
- Ý thơ hai câu (7, 8), Thời gian sao mà quá vội, không gian sao mà quá nhỏ. Ta khóc cho đời ta. Say đi! Cho lãng quên đời. (khách thơ tưởng tượng CBQ ngồi một mình uống rượu nhìn bâng quơ, trong khi người đào hát làm bổn phận trên sân khấu trong đêm trăng tại Hội an thì trong hàng khán giả Ông tự nói với riêng mình ) .

III.- Bản dịch
Du Hội An phùng Vị thành ca giả

1. Cùng than gặp quá muộn màng,
2. Cùng nhau làm khách ngổn ngang xứ người ,
3. Lại đêm trăng.. sáo đàn vui !
4. Quê hương… cách trở... ngùi ngùi mấy thu .
5. Lệ khô, bình chửa chịu khô (?& !)
6. Cạn lòng, sáp cạn bấc sao không tàn ( ?& !)
7. Bạn xưa lác đác lá vàng,
8. Đừng ! không vẹn một khúc 3tàng tàng…, say ! .
Laiquangnam dịch

3 tàng tàng là chuếnh choáng .
Bóng nghiêng chuốc chén tàng tàng (Hoa Tiên)

IV. - Bản dịch 02 là của cụ Hoàng Tạo, thuộc Viện Hán nôm Hà nội ,
Bản dịch này thuộc trường phái kinh điển ưa thích lối dịch áp sát thể văn ngũ ngôn nguyên bản. Đó cũng là cách thưởng ngoạn của nhiều người .

Chơi phố Hội An, gặp người đào hát thành Vị
(Người dịch: 2Hoàng Tạo)

1. Bây giờ mới gặp nhau,
2. Gặp nhau nơi đất khách.
3. Trúc tơ đêm trăng này,
4. Đất nước mấy thu cách.
5. Lệ cạn rượu còn đầy,
6. Đèn còn lòng nỡ tắt ?
7. Bạn bè lưa thưa dần,
8. Tiếc gì nhau khúc hát.

2 Hoàng Tạo là một người thông thạo chữ Hán,lớp già , ông là cây bút chuyên dịch thơ chữ Hán, là một trong các cây bút dịch chủ lực của Viện Văn học Hà nội cạnh Tương như, Nam Trân và Khương hữu Dụng (lqn chú ) .

***
Lời nói cuối
Hội an một điểm đến về du lịch còn ngần ngại chi mà không tôn vinh Cao Bá Quát là nhà thơ của mình... Xin hãy lập và cho khắc vào văn bia bài thơ này, tại nơi CBQ đã đi qua, như người Tàu đã làm tại với núi Hàn Sơn với bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế .

Xin hãy giúp những người làm chức năng hướng dẫn du lịch khỏi ú ớ, xấu hổ, mỗi khi người du khách ngoại quốc nhìn họ và hỏi mĩa, “Việt Nam của anh, Hội An của anh, các anh không có... gì sao?, mà đâu đâu tôi cũng thấy chùa Tàu, văn minh Tàu “Mã Viện (tướng Phục Ba ) là gì của các anh vậy ?, sao tôi thấy các anh thờ Ông ta tại... “bạn tự tìm lấy tên chùa”, như là trò đó vui. Thử nghĩ thế nào ?

Laiquangnam
Email: laiqnam@yahoo.com
laiquangnam@gmail.com

02 - Trường Tương Tư của Lý Bạch



Trường Tương Tư của Lý Bạch
laiquangnam giới thiệu


Lý Bạch là nhà thơ Ðường với cuộc đời vô cùng đa diện. Ông đa tài trên nhiều lãnh vực. Ông tài hoa trong dòng thơ ngợi ca về tình bạn, đó là các bài “Tống” (Tiễn Bạn), bên cạnh những bài thơ tán tụng lạc thú uống rượu, tỷ như một bài rất đỗi quen thuộc với chúng ta, bài “Tương Tiến Tửu”, và những bài tán tụng về thú vui chơi vài xị, giỡn trăng, cho qua ngày đoạn tháng... Ông cũng còn là một thi nhân rất đỗi đa tình. Laiquangnam xin giới thiệu với các bạn một trong các bài về tình yêu, đây là nỗi thương nhớ tương tư giữa hai người bạn trẻ, họ đang yêu và họ đang ở “hai phương trời cách biệt”. Thương nhớ nhau đau đáu .Ý thơ rất trác tuyệt dù bị trói trong khuôn phép thơ Ðường rất mực cổ kính và giữ ý tứ vào thế kỷ thứ IX của Trung Quốc ngày xưa.
Mời các bạn đọc thử, đặc điểm hai bài này, bài thơ đã được vua Tự Ðức lấy ý trong bài “Khóc Thị Bằng” mà hậu thế thường nhắc đến, và cũng được tác giả Ðặng Trần Côn dùng trong Chinh Phụ Ngâm khi mô tả nỗi nhớ chàng của người chinh phụ .

Theo thông lệ một bản dịch thơ từ chữ Hán sang Việt ngữ, thường người giới thiệu thơ dịch đến khách thơ, qua cách trình bày theo thứ tự, nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Nay, laiquangnam trình bày ngược lại, nghĩa là dịch ra thơ Việt ngữ trước, rồi để nguyên tác cuối cùng. Một là làm cho khách thơ mất dần thói quen đọc dò theo nguyên tác trước khi đọc bản dịch, lối đọc ấy có thể làm mất thi vị vì khách thơ có thể bỏ qua thú vui “vạch lá tìm độ sung mãn trong dòng ngôn ngữ Việt" hai là nếu khách thơ thật sự thích thú nội dung nguyên tác thì xin tham khảo nguyên tác ở phần cuối trang.

*
Bản dịch 01
Trường Tương Tư (I)
(Nhớ Nàng Quá Chừng !)
Nguyên Tác của Lý Bạch


Nhớ nhau đau đáu !
Ngụ tạiTrường An !
Dế thu miệng giếng gáy ran,
Sương rơi bao lớp âm hàn chiếu tre.
Ðèn mờ, ruột thắt gan se,
Vén màn trăng ló e dè thầm than…
- Mỹ nhân !
“… Hoa cách mấy ngàn tầng mây !” .

Ngước lên trông trời tây biên biếc,
Cúi xuống nhìn sóng nước mông lung..
Hồn bay trời rộng hãi hùng,
Mộng hồn khó đến ngàn trùng… quan san!
Hiu hắt tim gan ! ,
Nhớ nhau đau đáu !

Laiquangnam dịch

*

Bản dịch 02
Trường Tương Tư II
(Nhớ Chàng Quá Đổi !)
Nguyên Tác của Lý Bạch


Hoa ngậm khói sắc trời sắp tận
Trăng giăng tơ lòng ngẫn(!)…sầu mang
Ðàn Triệu ngừng khúc Phượng Hoàng
Muốn ôm đàn Thục uyên ương góp lời

Ðàn ý hay không ai lưu giữ !
Gửi gió xuân đến xứ Yên Nhiên
Non Yên đâu chẳng tới miền [CPN]
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời [CPN]

Ánh mắt xưa lả lơi làn sóng
Mà nay thành suối nóng lệ tuông
Chẳng tin lòng thiếp đậm buồn !
Chàng về mà ngắm... đáy gương, hỡi chàng !.
laiquangnam dịch

*
Phần II

Nguyên tác
Trường Tương Tư (I & II)
Lý Bạch

Nhớ Quá Nàng Ơi !, (I)
01.- Nguyên tác

長相思 (其一 )
長 相 思
在 長 安
絡 緯 秋 啼 金 井 闌
微 霜 淒 淒 簟 色 寒
孤 燈 不 明 思 欲 絕
卷 帷 望 月 空 長 歎
美 人 如 花 隔 雲 端
上 有 青 冥 之 長 天
下 有 淥 水 之 波 瀾
天 長 路 遠 魂 飛 苦
夢 魂 不 到 關 山 難
長 相 思
摧 心 肝

02.- Phiên âm
Trường Tương Tư (1)

Trường tương tư
Tại Tràng An
Lạc vi thu đề kim tỉnh lan
Vi phong thê thê điệm sắc hàn
Cô đăng bất minh tư dục tuyệt
Quyển duy vọng nguyệt không trường thán
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan
Thượng hữu thanh minh chi trường thiên
Hạ hữu lục thủy chi ba lan
Thiên trường địa viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan san nan
Trường tương tư
Tồi tâm can.

Lý Bạch

03.- Chú thích vài từ Hán Việt Xa lạ với chứng ta
Trường tương tư cũng là tên một khúc hát cổ
Nhớ Nàng Quá Chừng !
Nhớ nhau quá !
Ở Trường An
Dế kêu thu bên miệng giếng
Ngọn gió hắt hiu, chiếu tre thêm lạnh
Ðèn cô độc không sáng , nhớ muốn chết
Cuốn rèm, nhìn trời than dài
- Mỹ nhân, cách mấý tầng mây
- Trên thì trời xanh, cao vòi vọi
- Dướí có nước xanh, sóng xô
Trời cao đường xa, hồn khổ
Mộng hồn không đến được, nơi quan san thật khó
Nhớ nhau quá
Ðứt ruột gan

04.- Bản dịch

Trường Tương Tư (I)
(Nhớ Nàng Quá Chừng !)

Nhớ nhau đau đáu !
Ngụ tạiTrường An !
Dế thu miệng giếng gáy ran,
Sương rơi bao lớp âm hàn chiếu tre.
Ðèn mờ , ruột thắt gan se,
Vén màn trăng ló e dè thầm than…
- Mỹ nhân !
“…Hoa cách mấy ngàn tầng mây !” .

Ngước lên trông trời tây biên biếc ,
Cúi xuống nhìn sóng nước mông lung .
Hồn bay trời rộng hãi hùng ,
Mộng hồn khó đến ngàn trùng… quan san,
Hiu hắt tim gan ! ,
Nhớ nhau đau đáu !

Laiquangnam dịch

+ + +

II.- Nhớ Quá Chàng Ơi (II)
01.- Nguyên Tác

長 相 思 (其二 )

日 色 已 盡 花 含 煙
月 明 欲 愁 不
趙 瑟 初 停 鳳 凰 柱
蜀 琴 欲 奏 鴛 鴦 絃
此 曲 有 意 無 人 傳
願 隨 春 風 寄 燕 然
憶 君 迢 迢 隔 青 天
昔 日 橫 波 目
今 成 流 淚 泉
不 信 妾 腸 斷
歸 來 看 取 明 鏡 前

02.- Phiên âm
Trường Tương Tư (II)
Nhật sắc dĩ tận hoa hàm yên
Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền
Nguyện tuỳ xuân phong ký Yên Nhiên
Ức quân điều điều cách thanh thiên
Tích thì hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Qui lai khán thủ minh kính tiền
Lý Bạch

+++

đều là xa...

03.- Chú thích vài từ Hán Việt xa lạ với chứng ta
Trường Tương Tư (II), “Nhớ Quá Chàng Ơi !”
hàm yên: ngậm khói
như tố: như tơ lụa”
Triệu” đàn Triệu
Thục cầm: Ðàn Thục

04.- Bản dịch thơ
Trường Tương Tư II
Lý Bạch


Hoa ngậm khói sắc trời sắp tận
Trăng giăng tơ lòng ngẫn(!)…sầu mang
Ðàn Triệu ngừng khúc Phượng Hòang
Muốn ôm đàn Thục uyên ương góp lời

Ðàn ý hay không ai lưu giữ !
Gửi gió xuân đến xứ Yên Nhiên
Non Yên đâu chẳng tới miền [CPN]
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời [CPN]

Ánh mắt xưa lả lơi làn sóng
Mà nay thành suối nóng lệ tuông
Chẳng tin lòng thiếp đậm buồn !
Chàng về mà ngắm... đáy gương , hỡi chàng !.

laiquangnam

05.- Chú thích riêng

1.- Bài có 11 câu biến thành 12 câu cho đủ khổ - song thất lục bát
2.- Hai câu:
“Nguyện tuỳ xuân phong ký Yên Nhiên
Ức quân điều điềucách thanh thiên”
Trong Chinh Phụ Ngâm, bà Đoàn Thị Điểm đã dịch thành
Non Yên đâu chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
3.- Câu “Qui lai khán thủ minh kính tiền”
Câu này vua Tự Ðức lấy cho ý thơ của mình trong bài “Khóc Thị Bằng”:
“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng”
Lứa tuổi học trò chúng ta thường thích thú ngâm nga hai câu:
“Đâp cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Trong cuộc sống, ai có yêu, có nhớ mới cảm nhận “tương tư” nó ra làm sao, và Lý Bạch đem tâm trạng của người tình si trang trải với tha nhân.
“Não người cữ gió tuần mưa
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày” (Kiều)

laiquangnam





Tương Tư qua các dòng thơ của Nguyễn Công Trứ, Tản Đà,
Nguyễn Bính, Tú Mở, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi

Tương Tư
Nguyễn Công Trứ

Tương tư không biết cái làm sao,
Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào ?
Lúc đứng, khi ngồi, khi nói chuyện,
Lúc say, lúc tỉnh, lúc chiêm bao.
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước,
Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào.
Một nước một non người một ngã,
Tương tư không biết cái làm sao ?

Mười hai bến nước một con thuyền,
Tình tự xa xôi đố vẽ nên.
Từ biệt nhều lời lo ngắn giấỵ
Tương tư nặng gánh chứa đầy then.
Rồi đây nỏ biết quên hay nhớ,
Từ đó mà mang nợ với duyên.
Tình ấy trăng kia như biết với,
Chia làm hai nửa giọt hai bên.


Tương Tư
Tản Đà

Quái lạ ! Làm sao cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâụ
Bốn phương mây nước, người đôi ngã
Hai chữ tương tư, một gánh sầu.


Tương Tư
Nguyễn Bính

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một ngườị
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho !
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?


Tương Tư
Tú Mỡ

Vì ai nên nỗi nhớ cùng thương
Một mối tơ tình dạ vấn vương.
Tựa gối mơ màng hình bạn ngọc
Thấy trăng nhớ tưởng bóng người vàng.
Ruột tằm chín khúc vò tơ rối
Giấc điệp năm canh diễN khác trường.
Muốn nhắc cùng ai, ai nhắc hộ
Mòn đuôi con mắt giải sông Tương.


Tương Tư
Nguyên Sa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
kể từ gió thổi trong vừng tóc
hay lúc thu về cánh nhạn kia ?

Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh giữa đêm khuya
hay là em chọn sai màu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi ?

Có phải rằng tôi chưa được quen
làm sao buổi sáng đợi chờ em
hay từng hơi thở là âm nhạc
đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
đi về bằng những ngón chân thưa
và nghe em ghé vào giấc mộng
vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
chỉ biết em mang theo nghê thường
cho nên đôi mắt mờ hư ảo
cả bốn chân trời chỉ có em.



Tương Tư
Hà Huyền Chi

Một tuần không thư
Một người u cư
Ngóng chờ xanh mặt
Núi rừng tương tư

Một tuần không em
Nhạt nhòa hơi men
Sao mờ nguyệt tận
Nỗi buồn không tên

Một tuần xa nhau
Từng ngày nhớ đau
Lòng như chỉ rối
Ngập hồn mưa ngâu

Một tuần im hơi
Giận hờn khôn nguôi
Thư anh khói lửa
Giáo gươm từng lời

Một tuần thương mong
Tình đầy thương vong
Anh dữ như sói
Em buồn anh không?

03 - Thơ Lư Luân

Lư Luân - 盧綸

Tiểu sử tác giả
Lư Luân 盧綸 (748-800) tự là Doãn Ngôn, người Hà Trung (nay là tỉnh Sơn Tây).
Lư Luân là một trong mười tài tử thời Đại Lịch (chín tài tử kia là: Cát Trung Phu, Hàn Hoành, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Động, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm, Lý Đoan).
1. Tống Lý Đoan
送李端
故關衰草遍,
離別正堪悲。
路出寒雲外,
人歸暮雪時。
少孤為客早,
多難識君遲。
掩淚空相向,
風塵何處期。
Phiên âm
Tống Lý Đoan
Cố quan suy thảo biến
Ly biệt chính kham bi
Lộ xuất hàn vân ngoại
Nhân quy mộ tuyết thì
Thiếu cô vi khách tảo
Đa nạn thức quân trì
Yểm khấp không tương hướng
Phong trần hà sở kỳ.
laiquangnam dịch
Cửa ải xưa cỏ hoang đều khắp,
Chạm cảnh này sầu biệt lan nhanh
Mây lạnh ngắt soi đường lồ lộ
Người về sập tối tuyết mông mênh
Nhỏ mồ côi sớm thân đất khách ,
1* Gian nàn hoài chậm buổi quen anh,
Lau mắt nhìn nhau , đâu nói được ,
Kiếp phong trần tái ngộ mong manh !
Lqn dịch
Trao đổi cùng khách thơ .
1* Gian nàn hoài chậm buổi quen anh//cuộc sống khó khăn khiến tôi biết anh quá chậm .// đúng ra nên dịch “Gian nan, buồn chậm buổi quen anh” thì sát ý thơ hơn ..
Tham khảo
Tiễn Lý Đoan
Cụ TRẦN TRỌNG SAN dịch
Ải xưa đầy cỏ úa
Đau lòng lúc chia phôi
Đường ra ngoài mây lạnh
Người về tuyết chiều rơi
Mồ côi sớm làm khách
Nhiều nạn chậm quen ai
Nín lệ nhìn nhau mãi
Mong chi gặp nữa rồi!
Cụ TTS cố gắng giữ nguyên thể, hay với người thích vậy, nhưng tôi thấy nó đã làm giảm độ ngậm ngùi, cái buồn bất lực của người trong cuộc .
Bài buồn quá

Bài của Bạch cư Dị
Đại Lâm tự đào hoa (Bạch Cư Dị - 白居易, )
1.大林寺桃花
人間四月芳菲盡
山寺桃花使盛開
長恨春歸無覓處
不知轉入此中來

Phiên âm

Đại Lâm tự đào hoa

Nhân gian tứ nguyệt phương phi tận
Sơn tự đào hoa thủy thịnh khai
Trường hận xuân quy vô mịch xứ
Bất tri chuyển nhập thử trung lai.


Đại Lâm Tự Đào Hoa

Tháng tư 1thành lệ hương tàn
Cây đào trên núi rộ khan sân chùa ,
Giận mãi xuân qua lùa xuân sắc .
Tìm đây lạc trú mấy ai hay .
laiquangnam dịch


Trao đổi cùng khách thơ
1thành lệ// thông lệ // sắc xuân đã chảy thành dòng lệ tiếc cuộc chơi .
( ngoài bản gốc, lợi dụng tính đa nghĩa của tiếng VIỆT để cùng vui với người dịch ). Bài thơ mang âm hưởng Phật giáo Đông phương .
laiquangnam

04 -Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ của Trương Nhược Như

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ của Trương Nhược Như
Lại Quảng Nam


Nhà thơ Trương Nhược Hư 張若虛 (660 – 720) người ở Dương Châu. Ông cùng với Hạ Tri Chương, Trương Húc, Bao Dung được gọi là “Ngô trung tứ sĩ” vì Hạ Tri Chương tự xưng là Tứ Linh cuồng khách, Trương Húc cùng với Lý Bạch, Bùi Uẩn múa kiếm làm thơ và tự xưng là tam tuyệt, nên bốn nhà thơ nầy quy tụ lại với danh xưng để ngạo với đời. Phong cách thơ ông trong sáng hoa lệ, giàu chất trữ tình, Ông có vị trí quan trọng giai đọan thi ca thời Sơ Đường.
Thơ ông thất lạc gần hết. “Toàn Đường thi” chỉ ghi lại được hai bài thơ của ông là “Đại Đáp Khuê Mộng Hòan” và “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ”.
Bài “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ” này cũng đủ Trương Nhược Hư trở tành bất tử. Tại Nhật Bản hai bài thơ Đường nầy được yêu thích nhất có lẽ nó mang hình ảnh thấp thoáng đâu đó trên xứ sở Phù Tang.

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ

春江花月夜


春江潮水連海平,
海上明月共潮生。
灩灩隨波千萬里,
何處春江無月明。

江流宛轉繞芳甸,
月照花林皆如霰。
空裏流霜不覺飛,
汀上白沙看不見。

江天一色無縴塵,
皎皎空中孤月輪。
江畔何人初見月,
江月何年初照人。


人生代代無窮已,
江月年年望 相似。
不知江月 照 何人,
但見長江送流水。



白雲一片去悠悠,
青楓浦上不勝愁。
誰家今夜扁舟子,
何處相思明月樓。

可憐樓上月徘徊 ,
應照离人妝鏡臺。
玉戶簾中捲不去,
搗衣砧上拂還來。

此時相望不相聞,
願逐月華流照君。
鴻雁長飛光不度,
魚龍潜躍水成文。

昨夜閒潭夢落花,
可憐春半不還家。
江水流春去欲盡,
江潭落月復西斜。

斜月沉沉藏海霧,
碣石瀟湘無限路。
不知乘月幾人歸,
落月搖情滿江樹。

Trương Nhược Hư
XUÂN GIANG HOA NGUYỆT DẠ
Phiên âm:
1. Xuân giang triều thủy liên hải bình,
2. Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
3. Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
4. Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

5. Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
6. Nguyệt chiếu hoa lâm giai tự tiễn.
7. Không lý lưư sương bất giác phi,
8. Đinh thượng bạch sa khan bất kiến.

9. Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
10. Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
11. Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt?
12. Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?

13. Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
14. Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
15. Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
16. Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

17. Bạch vân nhất phiến khứ du du,
18. Thanh phong phố thượng bất thăng sầu.
19. Thùy gia kim dạ biên chu tử,
20. Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

21. Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
22. Ưng chiến ly nhân trang kính đài.
23. Ngọc lộ liêm trung quyển bất khứ,
24. Đảo y châm thượng phất hòan lai.

25. Thử thời tương vọng bất tương văn,
26. Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
27. Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
28. Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

29. Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
30. Khả liên xuân bán bất hòan gia.
31. Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
32. Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

33. Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
34. Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
35. Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
36. Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.


Bài thơ phác họa hình ảnh đợi con nước lên người du tử ra đi. Khi chàng vừa ra đi thì lập tức lòng người phụ nữ bùng lên nỗi nhớ. Chàng và nàng rất đổi nhớ nhau.
Ý thơ trong sáng, lời thơ hoa lệ. Kết luận bất ngờ, dễ thương.



Bản dịch thơ
Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ
Trương Nhược Hư
Lại Quảng Nam dịch

1. Nước sông xuân dâng theo triều biển
2. Mặt biển xanh trăng rướn theo triều
3. Dặm xa đầu sóng trăng treo
4. Sông xuân lớp lớp rải đều ánh trăng

5. Sông ôm cồn dăng dăng hương thỏang
6. Trăng soi, ngờ… tuyết sáng rừng hoa
7. Trên sông lừng lững sương sa
8. Bãi sông cát trắng sắc pha bời bời .

9. Chẳng vướng bụi sông trời một khối
10. Dằng dặc trăng ngàn mối lẽ loi
11. Ngày đầu ai thấy trăng soi ?
12. Trên sông trăng rọi những ai ngày đầu ?

13. Cõi nhân sinh sắc màu lai láng …
14. Trăng trên sông năm tháng láng lai…,
15. Lòng trăng ai biết chăng ai ?
16. Ngước nhìn sông nước , miệt mài trăng trôi.

17. Mây một đóa trắng trời bay mãi ,
18. Phong trên bờ xanh bãi sầu vương ,
19. Đêm nay thuyền nhỏ dặm trường ,
20. Lầu trăng gởi mối sầu thương xứ nào?

21. Nhìn sang lầu, trăng bao thương cảm,
22. Chiếu đài gương , người thấm biệt ly ,
23. Cuốn rèm trăng chẳng chịu đi,
24. Phủi 1chày đập áo trăng lì trở lui .

25. Trăng cùng ngắm ,tiếng người ?_im lắng …!,
26. Nguyện cùng theo trăng sáng nên chăng?
27. _”Nhạn nào chở hết ánh trăng ,
28. _2Ngư long ngầm quậy cầm bằng tay xoa !”

29. Đầm đêm qua mơ hoa rơi rụng
30. Tàn nửa xuân , Người cũng chửa về !
31. Nước trôi xuân sắc ủ ê
32. Tây đầm,trăng lặn tái tê lệ nhòa….

33. Biển sa mù trăng tà chìm khuất
34. Đường 3KIỆT TƯƠNG lớp lớp nhiêu khê
35. Nào hay ai cữơi trăng về
36. Trăng sà trên bến cây mê mê tình.
laiquangnam dịch


Chú thích :

1Chày đập áo [Đảo y châm ], áo là dụng cụ để đập áo khi giặt .
2Ngư long là con cá lớn sống trong nước ,~cá kình,cụ Nguyễn Trãi thì cho đó là một giống thú rất lớn sống trong nước.
Lì là giữ yên vị trí ,vị thế cũ .
3Kiệt Thạch, là núi Kiệt thạch ở vùng biên giới phía bắc ở huyện Xương Lê, Tiêu Tương là hai dòng sông Tiêu và Tương hợp lưu ở Hà Nam và chảy vào Động Đình Hồ .

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ là đêm hoa trăng trên sông xuân, tuy nhiên đây cũng là tên của một khúc ngâm nổi tiếng của Trần Hậu Chủ.


Dịch nghĩa:
Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân

1 Thủy triều lên mặt sông xuân ngang mặt biển,
2 Trên biển trăng sáng cùng lên với thủy triều.
3 Dập dờn trôi theo sóng muôn ngàn dặm,
4 Có nơi nào trên sông xuân không ánh sáng trăng.
5 Dòng sông lượn quanh khu cồn hương thơm,
6 Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết.
7 Trên sông, sương trôi tưởng như không bay,
8 Bãi sông cát trắng nhìn không ra.
9 Sông và trời một màu không mảy bụi,
10 Vằng vặc giữa không trung một vầng trăng trơ trọi.
11 Người bên sông, ai kẻ đầu tiên không thấy trăng?
12 Trăng trên sông,đêm nào lần đầu tiên rọi xuống người?
13 Người sinh đời đời không bao giờ hết,
14 Trăng trên sông năm này qua năm khác ngắm vẫn y nguyên.
15 Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng ai,
16 Chỉ thấy sông dài dưa dòng nước chảy.
17 Mây trắng một dải vẩn vơ bay,
18 Cây phong biết xanh trên bờ buồn khôn xiết.
19 Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ?
20 Người nơi nao trên lầu trăng sáng đang tương tư?
21 Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi,
22 Phải chiếu sáng đài gương người ly biệt.
23 Rèm nhà ngọc cuống lên rồi, trăng vẫn không đi,
24 Phiến đá đập áo phủi đi rồi, trăng vẫn cứ trở lại.
25 Giờ đây cùng ngắm trăng mà không nghe thấy tiếng nhau,
26 Nguyện theo ánh trăng trôi tới chiếu sáng người.
27 Chim hồng nhạn bay dài không thể mang ánh trăng đi,
28 Cá rồng quẫy ngầm chỉ khiến làn nước gợn sóng.
29 Đêm qua thanh vắng mơ thấy hoa rơi,
30 Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà.
31 Nước sông trôi xuôi, xuân di sắp hết,
32 Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây.
33 Trăng xế chìm dần trong sương mù mặt bể,
24 Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng.
35 Chẳng biết nương ánh trăng đã mấy người về,
36 TTrăng lặn làm xao xuyến tình những hàng cây ven sông.

Dịch thơ:
Bản dịch của Khương Hữu Dụng

1. Sông xuân triều dậy mặt biẻn bằng,
2. Trên biển trăng cùng triều nước dâng.
3. Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng,
4. Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng.

5. Quanh co sông lượn cồn hương chảy,
6. Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải.
7. Tầng không sương tỏa tưởng không bay,
8. Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy.

9. Trong vắt trời sông suốt một màu,
10. Trên sông vằng vặc một trăng cao.
11. Ai người đầu đã trông trăng ấy?
12. Trăng ấy soi người tự thuở nào?

13. Người cứ đời đời sinh nở mãi,
14. Trăng vẫn năm năm sông nước giãi.
15. Soi ai nào biết được lòng trăng,
16. Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy.

17. Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu,
18. Cành phong xanh bến biết bao sầu.
19. Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
20. Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào?

21. Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi,
22. Soi mãi đài gương kẻ lẻ đôi.
23. Cửa ngọc cuốn rèm xưa vẫn ở,
24. Hòn châm vừa phẩy ánh liền soi.

25. Chừ đây trông ngóng bẵng tăm hơi,
26. Mong quyến theo trăng đến rọi người.
27. Bay mỏi nhạn không mang ánh được,
28. Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi.

29. Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,
30. Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi.
31. Nước cuốn xuân đi, trôi sắp hết,
32. Vòm sông trăng lại xế sang đoài.

33. Trăng khuất mù khơi chìm chậm chậm,
34. Dòng Tương, non Kiệt ngàn muôn dặm.
35. Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo ,
36. Trăng lặn xao tình cây nươc gợn.
Khương Hữu Dụng


Bản dịch của cụ Tản Đà

Sông xuân sáng nước liền ngang bể,
Vầng trăng trong mặt bể lên cao.
Ánh trăng theo sóng đẹp sao!
Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng ?

Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,
Trăng soi hoa như tán trập trùng.
Sương bay chẳng biết trong không
Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì.

Trời in nước một ly không bụi.
Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời.
Thấy trăng thoạt mới là ai ?
Trăng sông thoạt mới soi người năm nao ?

Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,
Nhìn trăng sông năm hệt không sai.
Trăng sông chẳng biết soi ai,
Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi.

Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,
Rặng phong xanh một dải sông sầu.
Đêm nay ai đó, ai đâu ?
Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.

Trăng thờ thẫn nơi người xa ngóng,
Chốn đài gương tựa bóng thương ai.
Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,
Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay.

Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,
Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.
Hồng bay, ánh sáng không màng,
Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm.

Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,
Ai xa nhà xuân nửa còn chi!
Nước sông trôi mãi xuân đi,
Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm.

Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,
Đường bao xa non kệ sông Tương.
Về trăng mấy kẻ thừa lương,
Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông
Tản Đà

Kẻ hậu bối xin đóng với bậc tiền nhân đã dày công tìm hiểu thư Đường trong những thâp kỷ trước.
Lại Quảng Nam

05 - Bài thơ tuyệt cú của Giả Đảo

Tản Mạn về ba bài thơ tuyệt cú của Giả Đảo
Lại Quảng Nam

Trong các bài thơ Đường, thơ Giả Đảo ít được dịch nhưng có vài bài thơ của ông cũng thường nhắc đến vì vậy kẻ hậu sinh xin dịch và tản mạn đôi chút.

Bài thơ Tuyệt Cú

賈島
Giả Đảo
絕句
Tuyệt Cú

二句三年得,
Nhị cú tam niên đắc
一吟雙淚流。
Nhất ngâm song lệ lưu
知音如不賞,
Tri âm như bất thưởng
歸臥故山秋。
Quy ngọa cố sơn thu

Phiên âm
Tuyệt Cú
Giả Đảo (793 – 865)

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm nhi bất thưởng
Quy ngọa cố sơn thu

Ý thơ
Câu 1: Khổ công mất ba năm để lập ngôn, chăm chút công phu
Câu 2: mức độ sâu sắc của câu thơ đối với thi nhân
Câu 3: chữ bất rất đặc sắc, đã là tri âm mà còn bất, mới đau
Câu 4: nỗi cô đơn, chỉ có núi rừng và Thu là nơi người thi nhân bình an nhất.


Bản dịch 01 - Tuyệt Cú

Ba năm ưng* ý đôi câu,
Ngâm lên mỗi lúc lệ đâu** hai hàng***.
Tri âm lật lật vội vàng,
Về nằm núi cũ với nàng thu xưa.
LQN dịch

Bản dịch 02 - Tuyệt Cú
Cho người thích dịch sát lời nguyên bản [thích ngôn ngữ dân dã, không cầu kỳ]

Ba năm ưng bụng đôi câu,
Lúc ngâm là lúc lệ đâu hai hàng.
Tri âm chẳng thấu ruột gan ,
Về nằm núi cũ hàng hàng sắc thu .
LQN dịch

Chú thích từ ngữ xử dụng

* ưng ý [=đắc ý], ưng bụng
** lệ đâu [= là lệ không biết từ nơi nào đến?]
lệ đâu [ đâu là đối nhau thành cặp,]
lệ đâu [= hai hàng chảy song song ]
*** hàng hàng [Hàng hàng là nước mắt sa hai hàng ]
hàng hàng [Hàng hàng là lớp lớp]
Tri âm lật lật vội vàng [tri âm cà chớn], gặp thứ thiệt rồi !,


Hai chữ ‘thôi xao” trong bài thơ Giả Đảo

Giả Đảo ngoài câu thơ để đời “tam niên đắc nhị cú” trong bài bài tuyệt cú, ông còn có một giai thọai về hai chữ “thôi xao”, [thôi là đẩy ,xao là gỏ ],trong bài thơ dưới đây .
Giả Đảo nằm trong nhóm khổ ngâm, nhóm này chọn câu chữ rất đẻo gọt.
Chuyện kể khi làm bài thơ “Đề Lí Ngưng u cư “ đến câu cuối “Tăng “thôi ?, xao?” nguyệt hạ môn”, ông phân vân không biết khi chọn chữ thôi hay chữ xao, bởi trước đó Giả Đảo hạ chữ “thôi”, cho đến khi hỏi ý kiến ông Hàn Dũ, ông Hàn bảo nên chọn chữ “xao” thì đúng hơn. Lý của Hàn Dũ là trời vừa sập tối là các chùa đều đóng cửa cài then, ông đẩy sao nổi mà đẩy, ông chỉ còn cách gõ cửa để vào chùa mà thôi. Giả Đảo bèn chọn chữ ‘xao’.
Ngày nay hai chữ “thôi xao” trở thành chữ thông dụng, ám chỉ sự cân nhắc kỷ, ta cần phải biết rõ sự lý của nó, đó là do tích này .
Điều đặc biệt bài này là ít được các dịch giả VN chọn dịch không biết lý do gì. LQN thấy bài thơ cũng không đến nổi, bèn lượm lại dịch giới thiệu cùng đồng hương .


Ta đọc thử nguyên bản:

題李凝幽居
Đề Lí Ngưng U Cư
賈島
Giả Đảo

閑居少鄰並,
Nhàn cư thiểu lân tịnh ,
草徑入荒園。
Thảo kính nhập hoang viên
鳥宿池邊樹,
Điểu túc trì biên thụ
僧敲月下門。
Tăng xao nguyệt hạ môn


Phiên âm

Đề Lí Ngưng U Cư
Giả Đảo

Nhàn cư thiểu lân tịnh,
Thảo kính nhập hoang viên.
Điểu túc trì biên thụ,
Tăng xao nguyệt hạ môn.

Ý thơ còn nằm trong câu cuối, mà thế hệ học sinh chúng ta ngyà trước đều nhớ Nguyễn Công Trứ có câu thơ trong một bài hát nói : “nguyêt lai môn hạ nhàn”
Ngoài ra bài này dịch dễ dẫn đến cái nhàn nhạc trong thơ dịch. May quá đối với dân Quảng Nam thì điều này coi bộ không đến nổi lạnh lẽo...
[Nhàn gồm chữ MÔN + NGUYỆT ]
月+門= nhàn 閒

Tạm dịch

Sống nhàn dật, láng giềng quá ít,
Đường vào nhà cỏ bít đường vô.
Chim tìm cây ngủ ven ao,
Sư vừa gỏ cửa - “Thôi xô”! trăng cười
LQN dịch

Lời bàn
[Tiếng Quảng Nam khi đọc không để ý và âm “ao” nghe thành “ô” nên dễ dính “xao” thành “xô” lắm nghe .
Người nhàn dật mọi thứ đều nên nhẹ nhàng, như thế mới phải, “thôi xô” [là không còn xô nữa, sư đã ngộ ! ].Dân Quảng Nam thì ngầm hiểu rằng “thôi xô” là “thôi xao”, đã muốn nhàn mà còn “thôi với xao” cái gì ! biết bao giờ mới nhàn được .
Trăng đã đứng chờ sẳn dưới cửa kia kìa, trăng đang cười cha đó... [chữ nhàn] - Coi bộ thấy dân Quảng Nam vừa uống café vừa đọc thơ Đường, rồi nhìn họ tủm tỉm cười một mình, mình cũng thấy ngồ ngộ, phải không quý vị ?

Bài thơ cuối Xuân

三月晦日送春
Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân
賈島
Giả Đảo

三月正當三十日
Tam nguyệt chính đương tam thập nhật
春風別我苦吟身
Xuân phong biệt ngã khổ ngâm thân
共君今夜不須睡
Cộng quân kim dạ bất tu thụy
未到曉鐘猶是春
Vị quá hiểu chung do thị xuân.

Phiên âm

Tam Nguyệt Hối Nhật Tống Xuân
Giả Đảo

Tam nguyệt chính đương tam thập nhật
Xuân phong biệt ngã khổ ngâm thân
Cộng quân kim dạ bất tu thụy
Vị quá hiểu chung do thị xuân.

Ý thơ và tinh hoa:
Ý thơ đơn giản dễ cảm nhận và tùy sở thích của người thưởng ngoạn mà ý thơ thấm sâu hay cạn ?

Bản dịch
Tận Hưởng Ngày Xuân

Ba mươi tháng ba, ngày đáng nhớ
Xuân sắp tàn trăn trở vần thơ.
- “Đêm nay cùng thức cuối giờ
- Chưa nghe chuông sớm, ờ...! ờ!... còn xuân ! “
LQN

Chú thích
1.- Tam nguyệt hối nhật tống xuân [đêm 30/3 tiển xuân]
2.- Tận hưởng ngày xuân là ý thơ, ngầm ý nói chuyện thi ca, và dễ tra cứu.

Thơ của Giả Đảo cầu kỳ về cách dùng chữ và ý rất thâm sâu nên LQN lúc trà dư tửu hậu với bằng hữu khi "rượu hồng đào chưa thấm đã say" cao hứng đề cập và được khuyến khích nên bắt chước Tố Như tiên sinh xin "mua vui cũng được một vài trống canh".
Lại Quảng Nam

06 - Bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Giả Đảo

Lạm bàn về chữ “đồng tử” trong bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Giả Đảo
Lại Quảng Nam

Nhà thơ Giả Đảo (779 - 843) được nổi tiếng trong đời nhà Đường ở Trung Hoa. Ông nói “Mỗi ngày không làm thơ, tâm như giếng bỏ hoang” thế mà có hai câu thơ phải mất ba năm (Nhị cú tam niên đắc – Nhất ngâm song lệ thùy). Thế mới biết làm thơ không phải dễ?
Giả Đảo quê ở Hà Bắc, đi tu từ nhỏ, đến tuổi “ngủ thập tri thiên mệnh” ông gặp Hàn Dũ (768 – 824) rủ rê nên hoàn tục. Ông đi thi, đỗ tiến sĩ, ra làm quan và mất ở Phố Châu, Tứ Xuyên. Ông là người quý trọng chữ nghĩa vì vậy mỗi năm vào đêm trừ tịch, ông mang thơ của mình đặt lên hương án rồi bày mâm cỗ cúng tế. Ông được giữ chức Chủ Bạ Trường Giang và nơi đây ông sáng tác để lại cho đời bộ Trường Giang Tập gồm 10 quyển. Bộ thi phẩm nầy cũng không được nổi tiếng lắm so với những nhà thơ Đường cùng thời.
Giai thoại đề cập đến ông và nhà vua Đường Tuyên Tông như sau: Một hôm nhà vua Đường Tuyên Tông viếng chùa Pháp Kiến, nhà vua cầm thơ ông xem và đọc. Giả Đảo không biết đó là nhà vua nên giật lấy tập thơ và nói: “Ông làm sao xem nổi thơ nầy?”
Nhà vua không nói gì, bỏ ra về. Sau đó có người báo cho ông biết, đó là hoàng đế, ông liền đến hoàng cung tạ tội. Nhà vua không bắt tội mà còn ban cho ông chức Chủ Bạ Trường Giang. Thế mới biết tâm hồn của người quý trọng thơ văn, chữ nghĩa.
Đọc bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Gia Đảo, LQN xin lạm bàn đôi chút về bài thơ nầy vì trong bài có hai chữ “đồng tử” được dịch sang “đệ tử” trong tiếng Việt.

01.- Phiên âm

Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ
Giả Đảo

Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ.


02.- Ý thơ và tinh hoa bài thơ
Tìm đã lâu chưa gặp bạn, khách nay dừng lại nơi người quân tử ở ẩn [dưới tùng là ước lệ chổ ở ẩn], gặp người “học trò nhỏ cùng ruột với Thầy “[đệ tử, nói theo ngôn ngữ thuần Việt bây giờ]. Khách thì nóng lòng muốn gặp, đệ tử thì không muốn khuấy rầy Thầy. Bài thơ khá hay khi lột tả được mức độ tương phản rõ rệt này .

Xin đọc thử bản dịch của LQN

03. - Tùng Hạ Vấn Đồng Tử

Dừng dưới tùng hỏi thăm 2đệtử
- “Thầy con đâu ?” “lành dữ, bấy nay?”
Tà tà …. hái thuốc núi này,
Trùng trùng mây phủ biết thầy phương nao?”
lại quảng nam

Ghi chú

01.- Tận dụng kỷ thuật cấu trúc ngôn ngữ Việt khi thể hiện bằng chữ alphabet của thế kỷ 21, chữ quốc ngữ ngày nay có các dấu chăng ?, …! và màu sắc thể hiện các câu đối thoại, màu đen chỉ cho người kể chuyện, màu đỏ là khách, và màu xanh là đệ tử của người ẩn sĩ. Trong thơ Đường nguyên bản bằng chữ vuông thì làm gì có được cái hình thức thể hiện rõ ràng như chúng ta đang có.

Bản dịch cho thấy 2đệtử rất “ba phải !” phải không quý vị?

02.- Theo tự điển tiếng Việt của Thanh Nghị thì đệ tử là người học trò, thật ra trong ngôn ngữ đời thường thì chữ đệtử [viết liền] là người học trò thân cận, có khi là lớp đàn em thân cận hiểu ý thầy, nó khác với từ học trò… Dĩ nhiên trong giới nhà Phật thì dùng chữ đệ tử [viết rời] thuần nghĩa theo định nghĩa trong các từ điển Hán Việt thông thường .
Để phân biệt tôi đề nghị chúng ta dùng ba từ chỉ người học trò:
Học trò, đệ tử [viết rời, Hán Việt] , đệtử [viết liền cho trường hợp đệ tử là từ thuần Việt]
Khi nào quý vị chấp nhận từ mới thì bạn thấy tiếng Việt chúng ta thật vô địch, và bài thơ dễ cảm nhận hơn, không biết quý vị ra sao?

03.- Ý kiến nhỏ của lạiquảngnam khi định nghĩa từ thuần Việt:
Một từ thuần Việt là từ mà người Việt Nam dùng một cách tự nhiên trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, bất luận trình độ học vấn, nên khi nói là hiểu ngay.

Bản dịch của người xưa
Bản dịch của Tản Đà

Tìm nhà ẩn đạt không gặp
Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa
Chỉ trong dãy núi đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?".
Ngày Nay số 84, Ngày 07-11-1937


Chuyển sang Anh ngữ, do ông trùm Robert Payne dịch

Searching for the hermit in vain

Under the pines I asked the boy,
“My master has gone gathering herbs”, he said.
“He is somewhere in the mountain,
Deep in the clouds where no one knows”
Chia Tao

Kẻ hậu sinh không biết hết nhà thơ Gia Đảo dùng chữ “đồng tử” để ám chỉ “nhân vật nào” khác chứ dịch là “đệtử, đệ tử, học trò” thì mạn phép lạm bàn như đã nêu trên.
LQN

07 - Phong Kiều Dạ Bac

Lạm bàn về bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
laiquangnam


Nhà thơ Trương Kế xuất hiện trên thi đàn váo đời nhà Đường ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ VIII, nếu không có bài Phong Kiều Dạ Bạc thì kẻ sính thơ sẽ không biết tên tuổi của ông. Bài PKDB cách nay trên 1200 năm, được nhiều nhà thơ tên tuổi ở Việt Nam dịch vì vậy nó được lưu truyền.
Trương Kế quê ở Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc nhưng khi chu du ở bến Phong Kiều, bên cạnh dòng sông phía Tây thành Cô Tô thuộc Tô Châu, tỉnh Giang Tô… thi nhân gặp cảnh trí non nước hữu tình nên hồn thơ nhập vào.
Chùa Hàn San ở Tô Châu mà Tô Châu có lịch sử rất lâu đời, thành phố cổ kính và thơ mộng này được xây dựng từ thời Xuân Thu dưới triều đại nhà Ngô vào năm 514 trước Công nguyên nhưng chỉ mang cái tên như hiện nay dưới thời nhà Tùy vào năm 589 sau Công nguyên, và đã trở thành di sản của thế giới ở vùng bờ biển phía Đông Nam Trung Hoa…
Nhắc đến Tô Châu Tô Châu, phải kể đến thời đại xa xưa từ thưở Hạp Lư, vua nhà Ngô, người đã ra lệnh cho hai cận thần Ngũ Tử Tư và Tôn Võ xây dựng thành Tô Châu. Hình ảnh nàng Tây Thi, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa; có Ngôn Yển, một trong 10 học trò lớn của Khổng Tử; hai anh em Tôn Quyền, Tôn Sách; có Trương Húc, một trong ba nhà thư pháp Trung Hoa xuất sắc nhất của mọi thời; có thi hào Bạch Cư Dị và rất nhiều văn nhân, các nhà danh họa cổ, cận và hiện đại... Nghệ thuật thư pháp và tranh thủy mặc Tô Châu cũng nổi tiếng khắp Trung Hoa.
Nơi chốn có nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt vời ở trần gian và cũng là nơi nổi tiếng về tơ lụa… Vì vậy, Trương Kế khi lạc vào nơi chốn nầy, “tức” cảnh “sinh” thơ.


Phong Kiều Dạ Bạc

Bản phiên âm

1. Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
2. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
3. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
4. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Trương Kế

Bản dịch của Tản Đà:
(Một thái sơn bắc đẩu trong làng dịch thơ Đường)
1) Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
2) Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
3) Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
4) Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Và bản dịch của cụ Bùi Khánh Đản (cũng là một thái sơn bắc đẩu trong làng dịch thơ Đường)

1) Trăng lặn, sương mờ,nghe tiếng quạ
2) Lửa chài cây ánh giấc chưa yên
3) Cô tô bên mái Hàn San tự
4) Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền .
(Ấn bản 2006, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, nxb Văn Học )

Khi lấy bản dịch của cụ Tản Đà làm chuẩn, bởi lời dịch của cụ mượt mà, đôi khi hơi ẩu và cương, trong một bài khác, Chúng ta thương yêu cụ - bởi trong hòan cảnh của cụ vào thời điểm ấy - cơm áo gạo tiền bám lấy thi nhân, dịch như vậy là giỏi, chỉ tiếc một đièu là các thế hệ sau không “retouche” lại, mà có khi dịch còn tệ hơn, thật hết biết !
“Cụ Tản Đà hãy tha cho kẻ hậu sinh vì tội phạm thượng, khi đau lòng mà nhận xét về bản dich của cụ”. Cụ có tha thì kẻ hậu bối là dân ngoại đạo trong làng văn nghiệp báo mới dám lạm bàn, các người yêu văn nghệ xin hiểu chuyện bất đắc dĩ này, LQN nghĩ rằng ngày tết cụ cũng hể hả mà đánh bài đại xá, và thấy cụ cười hì hì, - bởi lúc bài thơ của cụ đăng báo thì LQN đang theo Tôn Ngộ Không, lúc “cha con chưa về với mẹ con” thì chắc cụ đâu có chấp nhất mần chi ! “

Xin vào chuyện với kẻ hậu sinh nghe cụ

Bài thơ của Trương Kế là một bài tứ tuyệt, rất tuyệt. Trong quyển Giai Thoại Nhà Văn Thế Giới của Thái Doãn Liễu và Hoàng Liên, nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1996, đề cập đến lai lịch bài thơ PKDB với dòng kết: “Bài thơ tứ tuyết rất hay đã hoàn thành và được truyền tụng mãi đến tận ngày nay, luôn nhắc nhở người nghệ sĩ muốn sáng tác tốt phải tyhâm nhập vào cuộc sống chứ không thể ngồi viết trốn ở giữa bốn bước tường trong tháp ngà nghệ thuật của mình”.

Câu 01: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Đây là một trong tám cảnh ước lệ, người xưa chọn khi làm thơ hay vẽ trang
1) chim nhạn sa bãi cát .
2) cảnh chợ chiều ở chân núi
3) cảnh thuyền buồm ở bãi xa về
4) xóm thuyền chài lúc buổi chiều
5) tiếng chuông chùa vẳng trên núi
6) bóng trăng thu trên hồ Động đình
7) tuyết sa trên sông lúc gần tối
8) Đêm mưa trên sông tương

Như thế, câu này thì cũng bình thường như “thiên hạ” – nhưng cái ngặt là thơ thất ngôn của Tàu, như là một sự thống kê, và cách ngắt câu rất dồn dập
Nguyệt lạc // ô đề // sương mãn thiên .
Vậy chữ nào chủ đạo trong câu này ?
Có lẽ chữ nào cũng quan trong, nhưng thơ hơn họa chính là chữ “ô đề”, có tiếng quạ, như vậy bản dịch không bỏ được chữ này... Ai đã ở quê, nhất là Quảng Nam mà nghe tiếng quạ kêu thì rất buồn,
Qua ! qua ! là tiếng quạ kêu, trong một bài khác thơ của Lý Bạch, thì Lý Bạch dùng chữ hình tượng là á ! á ! – Tàu khác Việt là vậy?
Ở Quảng Nam, trong nhà mà có người đau nặng mà nghe tiếng quạ, ông bà mình sợ lắm .
“sương mãn thiên” cũng là chữ quan trọng, cụm từ được dùng hỗ trợ cho câu cảnh chùa và tiếng chuông cảnh tỉnh ở câu 4


Câu 02: Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

a) Đến câu này thì cả hai vị lão bối đã “ bỏ qua một trong các mắt thơ, PHONG – là một loai cây ở xứ hàn đới, phong là cây báo hiệu cho mùa thu – mùa thu lai đến , mùa thu là mùa của thi nhân, mùa của suy tư, … Cây phong là cây biểu tượng cho đất nước Canada, nhất là ai từng đén bắc Mỹ, vùng phía đông bắc của nước MỸ thì không thể nào cầm lòng khi thấy rừng phong đổi sắc .mình thì chưa đén mỹ chỉ xem hình ! ô hô!

Cả hai bản dịch – đều đã bỏ chữ phong,

b) Nhưng mắt thơ trong câu này còn có chữ quan trọng hơn đó là chữ “đối”
Chứ đối dùng trong hai trường hợp tương phản nhau trong tiếng việt:
- đối là cùng nhau (ví dụ đối ẩm cùng nhau đối mặt uống rượu, cùng vui)
- đối còn mang ý nghĩa tương phản nhau (ví dụ đối thủ)
Chính chữ đối này mà bao nhiêu Giáo sư Viêt văn của chúng ta đã say sưa giảng – và ý thơ càng trở nên lung linh hơn... Vậy thì chúng ta phải giữ nguyên chữ đối trong câu thơ dịch, chữ đối hòan tòan việt hóa rồi, và đã hàm ý rồi ?

03: Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Câu này không có gì, thuần túy chỉ là sự miêu tả, nhưng chứ Hàn San không bỏ được, bỏ địa danh này thì khiến ta thấy thiếu thiếu..?, và chính chữ “hàn san” cũng khiến ta cảm thấy thêm thi vị, nếu bạn là người cầu tòan, hàn san núi cũng lạnh vì cõi nhân gian !

04: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Câu này coi bộ dữ a!
Dạ bán / gần sáng rồi, nghĩa là sự thao thức suốt đêm, nghía là gần tàn đêm – cụ BKĐ – không đạt rồi
Chung thanh – tiếng chuông ! – lại là một ý tưởng lung linh mang đầy màu sắc Phật giáo Đông phương, quá đả !
Đáo – cũng là một chữ hay – dịch là “viếng”, thì là trân trọng người thi nhân trong thuyền, nhưng đã là dân xứ Quảng thì nên dùng chứ đáo hơn, bởi khi phát âm, họ lưu giữ cái dư vị rượu sau cái khề khà, hóm hỉnh của phong cách Quảng mà đọc là “đố”, rồi để sưa sai bèn thách thức người nghe là tôi đố ông đó, ai ngủ, ai thúc nào, có bao nhiêu người thao thức !
Nữa đêm vẳng tiếng boong …! bu…. đáo thuyền ….
Chu choa ơi ! dân Quảng, khi ngà ngà không giữ ý dám đọc “sang” thành nữa đêm nghe tiếng boong …! bu….”đố” thuyền .
“đố” đó – thuyền nhân, lại đụng từ “thuyền nhân” – chữ dể xúc cảm trong dòng lịch sử dân tộc !
Chữ dễ sợ, “”đố “” đó ! thuyền nhân ngủ hay thức !
Boong ! …. là tiếng chuông gần [nghe lại Boong ! …. Boong !...
Bu ! …….. là tiếng chuông ngân xa xa . [nghe lại Bu ! …. Bu! ]
Ai là dân đất Quảng, nửa đêm nghe chuông chùa phật học ngồi đạy học bài thì mới đả !
Thật sung sướng thay được làm dân Quảng để nghe thơ Đường, do âm vị, các từ a, ê, ăn, en, ao, ô., ua, oai… cho nên sẽ có nhiều cái hóm hỉnh khi người Quảng đọc thơ đường do LQN liều mạng dịch để quên nổi buồn xa xứ.

Đọc lai tòan bài
Bản phiên âm

1.- Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
2.- Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
3.- Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
4.- Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Bản dịch của lạiquangnam

Qua ! qua ! sương phủ, trăng tà
Đèn thuyền phong rủ đối già giấc thu.
Hàn San qua lớp sa mù,
Nửa đêm, vẳng vẳng... boong!... bu!... đáo thuyền .
LQN

Ngôn ngữ dịch

Già giấc thu đúng ra là phải viết già Giấc thu – chữ già là một préfixe - già là hơn một nữa, đây chính là chữ miên trong chữ Tàu.
rủ: rủ rê, rủ là xụ xuống, cùng dấu hỏi, có chứ rũ dấu ngã là đông từ ũ rũ
qua: là trạng từ , nhưng “ qua” còn là động từ vươt qua

Chùa Hàn San đứng ngoài cái u u minh minh của cõi nhân gian.
Trong một bản dịch khác theo thể song thất lục bát, LQN co dịch là sương âm u... để tăng thêm cái sân si nơi trần thế! Thiện tai.
Xin đọc lại của người xưa và so sánh dùm

Đối chiếu bản dịch của cụ Tản Đà và cụ Bùi Khánh Đản… kẻ hậu sinh LQN hơn bốn thập niên xa quê cha đất tổ nhưng hình ảnh quê hương của thủơ học trò vẫn thoáng hiện trong tâm tư nên cảm thấy bài PKDB gần gũi với mình.
Có nhiều bài viết về Phong Kiều Dạ Bạc với địa danh nơi đó để tìm về cội nguồn xuất xứ của bài thơ của Trương Kế. LQN xin trích bài viết của Nguyệt Cầm.

“Hơn nghìn năm trước, Trương Kế với bài thơ Phong kiều dạ bạc viết trong một đêm trăng ở chùa Hàn San đã lưu dấu thành Cô Tô "một tên gọi khác của Tô Châu" vào thi ca. Rồi Bạch Cư Dị, một trong những thi hào lớn nhất thời Đường, người từng có thời gian trấn nhậm đất Tô Châu và yêu mến vùng đất tuyệt đẹp này nên đã viết nên nhiều vần thơ ca ngợi nó.
Cho đến hôm nay, hơn 1.500 năm sau những bài thơ của Bạch Cư Dị (ông làm tri phủ Tô Châu từ năm 825), Tô Châu vẫn thật đáng ngợi ca: chỉ trong phạm vi khu phố cổ thôi đã có đến sáu thắng cảnh được UNESCO xếp hạng di sản thế giới (trong toàn bộ chín di sản nhân loại ở Tô Châu). Thế nhưng, ngôi chùa nổi tiếng Hàn San lại bị lọt khỏi danh sách này.
Tô Châu có tới trên 60 hoa viên cực đẹp, mỗi hoa viên cũng đủ níu chân người. Khách đến đây không chỉ chiêm ngưỡng các tác phẩm bất tử của nghệ thuật xây dựng nhà vườn Trung Hoa mà còn để lắng nghe, sống lại với người xưa, trong đó có rất nhiều danh nhân Trung Hoa từng in dấu giày qua những lối đi lát đá quanh co của các khu vườn đầy kỳ hoa dị thảo, hay trong những mê cung bằng đá ảo diệu hoặc từng ngồi vịnh nguyệt đề thơ trong những mái thủy tạ cong cong ẩn hiện dưới dáng liễu ven hồ.
Trong đông đảo các danh nhân sinh trưởng hoặc từng sống ở Tô Châu, phải kể đến Hạp Lư, vua nhà Ngô, người đã ra lệnh cho hai cận thần Ngũ Tử Tư và Tôn Võ xây dựng thành Tô Châu; có nàng Tây Thi, một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa; có Ngôn Yển, một trong 10 học trò lớn của Khổng Tử; hai anh em Tôn Quyền, Tôn Sách; có Trương Húc, một trong ba nhà thư pháp Trung Hoa xuất sắc nhất của mọi thời; có thi hào Bạch Cư Dị và rất nhiều văn nhân, các nhà danh họa cổ, cận và hiện đại... Nghệ thuật thư pháp và tranh thủy mặc Tô Châu cũng nổi tiếng khắp Trung Hoa.
Tô Châu có lịch sử rất lâu đời, thành phố cổ kính và thơ mộng này được xây dựng từ thời Xuân Thu dưới triều đại nhà Ngô (năm 514 trước Công nguyên) nhưng chỉ mang cái tên như hiện nay dưới thời nhà Tùy (năm 589 sau Công nguyên), và đã trở thành một thủ đô của công nghiệp và thương mại ở vùng bờ biển phía Đông Nam Trung Hoa… sau khi con kênh đào nối liền Bắc Kinh với vùng Giang Nam được hoàn tất vào thế kỷ thứ 9. Chính Bạch Cư Dị khi trấn nhậm Tô Châu đã tiếp tục mở rộng hệ thống kênh đào để phát triển du lịch. Nhưng một Tô Châu đẹp đẽ và quyến rũ như du khách thấy hôm nay thật ra chỉ là bản sao của chính mình bởi Tô Châu đã từng bị tàn phá, hủy hoại nhiều phen khi quân Mông Cổ tràn sang (thế kỷ 13, 14).
Dù sau đó đô thị này đã có một thời kỳ phát triển huy hoàng nhất dưới hai triều đại nhà Minh và nhà Thanh, với hệ thống ngự viên được xây dựng khắp nơi, nhưng lại tiếp tục gặp tai ương; đó là khi quân nổi loạn Thái Bình thiên quốc đốt phá Tô Châu (năm 1860) và kế đến là cuộc xâm lăng của quân Nhật (1937). Nhiều ngự viên bị tàn phá trong chiến tranh. Một số nhà vườn nổi tiếng chỉ bắt đầu khôi phục vào thập niên 1950, và hầu hết chỉ phản ánh phong cách kiến trúc thời nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng. Song, nhờ bàn tay con người tôn tạo quá khéo léo, quá công phu, các nhà vườn Tô Châu hôm nay vẫn khiến du khách say lòng như một câu ngạn ngữ Trung Hoa: "Không có nơi nào dưới trời này đẹp cho bằng các khu vườn ở vùng hạ lưu sông Trường Giang, thế mà vườn ở Tô Châu lại đẹp hơn tất cả".
Đến Tô Châu khi mùa thu đã về, khi lá phong đã có đôi sắc vàng trên cành và trong tiết thu dịu mát, thật lý tưởng để thưởng ngoạn phong cảnh của đô thị cổ này. Thành phố không quá chộn rộn xe và người, nhịp sống thật thanh thản, nhẹ nhàng dù dân Tô Châu được xếp hạng cao về thu nhập theo đầu người tại TQ (3.680 USD/năm). Trên khắp các phố chính là những pano hình ảnh các nhà vườn đã được UNESCO xếp hạng di sản. Khu trung tâm không có nhà cao quá năm tầng. Những con đường xanh bóng cây. Và không chỉ có hoa trong các ngự viên, hoa còn ken dày trên hè phố.
Sau khi thưởng ngoạn hoa viên, chắc chắn du khách đến Tô Châu không thể bỏ qua cái thú ngồi thuyền trên các con kênh đào. Chính hệ thống kênh đào này cùng hàng nghìn chiếc cầu đá cổ kính soi bóng trên các dòng kênh khiến người ta gọi Tô Châu là một "Venice phương Đông", bên cạnh một loạt cách xưng tụng khác như "Thủ đô của tơ lụa" (lụa Tô Châu đã nổi tiếng tự nghìn xưa và nay là một thương hiệu ở tầm thế giới), "Cái nôi văn hóa thời Ngô", "Đô thị phong lưu", "Thế giới nhà vườn"...

Phong Kiều Dạ Bạc

Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương Kế về địa danh đã nổi danh và lưu truyền qua bao thế kỷ.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trương Kế

Bài viết trên tờ Văn Nghệ “Nói thêm về Phong Kiều Dạ Bạc” của tác giả Nguyễn Tất Phan. Sau khi giới thiệu bản dịch của Tản Đà theo sách Thơ Đường - Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học ấn hành năm 1989, ông có lời bàn:
Đã từ lâu rồi các nhà thơ VN tốn nhiều lời bàn cãi, suy luận và diễn giải theo ý riêng mình. Đó là vì thời trước thiếu phương tiện đi lại và thiếu thông tin. Có lẽ vì thế mà cụ Tản Đà cũng nhầm?
Vì theo ông, đã có một học giả Nhật đi đến tận Hàn San tự, tìm hiểu bài thơ và được vị sư ở đây giải thích: Trước đây ở Tô Châu có một thôn là Ô Đề (Ô Đề thôn) và một ngọn núi tên là núi Sầu Miên (Sầu Miên sơn). Bởi vậy bản dịch của Tản Đà:
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Như vậy là không chính xác vì nhầm các địa danh riêng Ô Đề, Sầu Miên với các từ ô đề và sầu miên có nghĩa chung.
Sau đó trên báo Văn Nghệ, ông Nguyễn Quảng Tuân (NQT) có trao đổi lại cách hiểu cho đúng bài thơ này. Ông NQT cho rằng, không nên hiểu ô đề, sầu miên như là những địa danh vì “nếu có thôn Ô Đề thì thôn đó phải ở rất xa, tận phía chân trời và không thể ở ngay vùng Tô Châu được”. Ông NQT đã từng đến thăm chùa Hàn San, đứng ở bến Phong Kiều nhìn quanh bốn phía “không có ngọn núi nào tên là Sầu Miên cả” bởi vậy khi Trương Kế nằm trong khoang thuyền nhìn lên bên ngoài cũng chỉ thấy những cây phong và những ngọn đèn chài không thể đối mặt với Sầu Miên, “một ngọn núi không có thực ở bên bờ sông”.
Chúng tôi xin được lạm bàn đôi điều.
Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ Đường nổi tiếng của Trung Quốc mà hầu hết ai đã đọc thơ Đường đều biết, bài thơ đã được nhiều nhà thơ cũng như nhiều nhà Hán học VN tuyển dịch trong nhiều công trình. Trong số đó bản dịch Tản Đà được người đọc đánh giá khá cao không chỉ vì thể thơ quen thuộc, vì ngôn ngữ uyển chuyển tinh diệu mà vì thấm được cái hồn của tác giả Trương Kế.
Ông NQT có giới thiệu hai bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, tuy có khác nhau vài từ ngữ nhưng cái mạch chính thì hai tác giả không khác nhau (câu 1, 2 bản Nguyễn Hàm Ninh: Quạ kêu, trăng lặn, trời sương / Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ), đặc biệt là cách hiểu các từ ô đề và sầu miên, đều dịch là tiếng quạ kêu và giấc ngủ sầu.
Xin được giới thiệu qua về xuất xứ bài thơ và tác giả. Trương Kế có tự là Ý Tôn, sống vào khoảng trước sau 756, đời Đường Túc Tông. Ông thi đậu tiến sĩ, từng làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc tài phú và mất tại đây. Trương Kế sinh thời học rộng thích bàn bạc văn chương, thế sự và thích làm thơ. Trong số tác phẩm ông để lại có một tập thơ và bài Phong kiều dạ bạc nổi tiếng nhất.
Theo các tác giả sách Almanach những nền văn minh thế giới, nguyên tác bài thơ đã được Khang Hữu Vi đời Thanh viết ra chữ to khắc trên bia dựng trong chùa Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.
Phong Kiều Dạ Bạc là một bài tứ tuyệt hàm súc nhưng không khó hiểu, với nhiều địa danh đầy sức khêu gợi như Cô Tô gợi về người đẹp Tây Thi, Hàn San gợi về các vị sư nổi tiếng một thời và nhiều giai thoại gắn liền với câu chữ nên không phải không có các cách giải thích khác nhau về một vài tình tiết. Tuy nhiên vẻ đẹp thống nhất của hình tượng Thơ thì các dịch giả từ Tản Đà đến Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Ngô Tất Tố… cũng như các dịch giả Viện Văn học sau này đều không khác nhau.
Theo thiển ý chúng tôi, chưa thể vội căn cứ vào một vài dữ liệu thời nay cách lúc tác giả viết bài thơ 13 thế kỷ để mà thay đổi nguyên tác, nhất là những cứ liệu có tính chất truyền ngôn.
Nếu xét trên phương diện thực địa thì dẫu Hòa thượng Tịnh Không có kể cho một học giả Nhật và tác giả Chung Bá Kính khi ghi chú sách Hội đồ Thiên gia thi có cho rằng Sầu Miên, Ô Đề là những địa danh thì Ông NQT trong chừng mực nào vẫn có thể nói rằng “không đúng” vì ông đã từng đến bến Phong Kiều mà không thấy những thôn, những núi nào ở Tô Châu để Trương Kế tức cảnh mà đưa vào thơ. Tuy nhiên, lập luận này vẫn không hoàn toàn thuyết phục người đọc, vì người ta nghĩ rằng, ông NQT là khách phương xa tới Hàn San một lần, chỉ mới nhìn quanh quẩn sao có thể phủ nhận được ý kiến một hòa thượng sở tại và một nhà nghiên cứu bản xứ. Ngộ nhỡ những thôn Ô Đề và núi Sầu Miên kia ở bên ngoài vùng Tô Châu, hoặc chính là tên ngày xưa của một trong những ngọn núi mờ xa mà ông NQT nhác thấy nhưng chưa có điều kiện tìm hiếu kỹ thì sao?
Chúng tôi tìm hiểu nghĩa thực của các từ ô đề và sầu miên trên phương diện khác, phương diện cảm xúc thẩm mỹ mà hình tượng thơ mang lại. Nếu thay vào ô đề và sầu miên trong cách hiểu là những địa danh thì bài thơ mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ, rất ít gợi cảm vì lúc ấy hai câu thơ chỉ còn là những câu tả cảnh thị giác đơn thuần: Trăng tà thôn Ô Đề sương rơi đầy trời / Hàng cây phong bên bờ sông cùng đốm lửa thuyền chài đối diện với núi Sầu miên.
Thế thôi, bức tranh không âm thanh, không tâm trạng. Tìm đâu ra cái nỗi buồn của Trương Kế gửi gắm trong một tiếng quạ kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài! Hai câu thơ tả thực mà không thực, nó hấp dẫn người đọc ở cái vẻ hư ảo của nó. Những ‎ý thơ có vẻ không khớp nhau vì khi trăng lặn (nguyệt lạc), tức đã gần sáng, mà gần sáng (rất khác nửa đêm, bán dạ) lúc này còn ai thức mà thỉnh chuông nữa.
Tác giả viết những câu thơ trong chập chờn nửa tỉnh nửa mơ, gần sáng mà cứ tưởng nửa đêm. Bởi vậy, Âu Dương Tu khi bình bài thơ có viết: nhà thơ vì mê câu văn hay mà làm cho‎ ý‎ không thông! Cái nỗi buồn của một kẻ bị chuyển đi xa kinh thành này cũng giống như nỗi buồn của Bạch Cư Dị lúc về Giang Châu luôn làm tác giả chìm đi trong ảo ảnh. Tiếng chuông đi từ chùa Hàn San, nơi có hai vị sư Hàn San và Thập Đắc nổi tiếng uyên thâm đạo học thời bấy giờ, ở ngoại thành Cô Tô đến làm khách của tác giả cũng là tiếng chuông ảo vậy! Câu thơ hay trong cái mơ màng hư ảo đó quả thật không liên quan đến một thôn Ô Đề và một núi Sầu Miên thực nào cả. Lấy một cái “giả thực” của ngoại cảnh để thể hiện một cái “đích thực” của tâm trạng là một đặc sắc nghệ thuật mà các tác giả cổ điển hay dùng (kiếu như Đạp hoa quy lai mã đề hương…)
Những tên thôn, tên núi mà các học giả Nhật giải thích và Chung Bá Kính ghi chú chắc gì đã có ở thời Trương Kế? Chúng ta thường gặp những địa danh mới thay vào tên cũ sau khi xảy ra những sự kiện nào đấy. Biết đâu vì sự nổi tiếng của bài thơ mà có những địa danh kia và những địa danh này có thể ở rất xa Tô Châu do người đời sau vận vào mà thôi!
Trương Kế là một nhà thơ, một học giả (tiến sĩ), tác phẩm viết để lại (không phải truyền miệng) không thể không cẩn thận ghi chú để người đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu. Khi tác giả đã viết Cô Tô thành, Hàn San tự, thì không thể không viết Ô Đề thôn và Sầu Miên sơn nếu quả thật ông muốn nói về thôn Ô Đề và núi Sầu Miên…
Cuối cùng, chúng tôi nghĩ, Phong Kiều Dạ Bạc từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là từ đời Thanh khi Khang Hữu Vi cho tạc bài thơ lên bia chùa Hàn San, người Trung Quốc chưa có đính chính gì thêm ‎về câu chữ, và bao nhiêu người dịch, người đọc VN thấy hình tượng thơ trong bài khá hoàn chỉnh, rất giàu sức truyền cảm nếu không muốn nói là tuyệt bích, thì không lẽ chỉ với một sự kiện đang ở dạng chú thích thêm lại có thể khiến ta nghi ngờ đổi thay nguyên tác. Ngay Giáo sư Vương Phương, nguời nổi tiếng về văn hóa cổ của Trung Quốc cũng cho rằng, có nhiều cách hiểu bài tứ tuyệt của Trương Kế và chính ông không khẳng định nên theo cách hiểu nào. Còn chúng ta, cách hiểu mà chúng ta nên theo là cách hiểu mang lại giá trị thẩm mỹ cao nhất của thi phẩm. Và Tản Đà tiên sinh cũng như các dịch giả VN từ trước đến nay đã dịch bài thơ theo hướng này”.
Nguyệt Cầm

Bản dịch sang tiếng Anh của Witter Bynner

Zhang Ji
A NIGHT- MOORING NEAR MAPLE BRIDGE

While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.


Mang tâm trạng của người con xứ Quảng qua bao năm xa quê nhà, hồi tưởng lại tháng ngày xa xưa, được đi thuyển trên dòng sông Thu dưới ánh trăng mờ ảo, nghe tiếng chuông chùa ngân vang… tiếc rằng kẻ hậu sinh không phải là thi nhân để sáng tác nên mượn thơ người xưa để mường tượng hình ảnh chung quanh.
Kẻ hậu bối xa quê nhà, gặp được anh em trong văn giới nói chuyện văn chương nên cao hứng lạm bàn đôi điều để gọi là “góp mặt với thế gian”.

Lai Quang Nam