Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022
NGUỒN GỐC TRUYỆN KIỀU
VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN ,“THANH TÂM TÀI NHÂN“ (*)
PHẦN 1- NHỮNG ĐIỀU PHẨN NỘ
hay “ những điều trông thấy mà đau đớn lòng “
laiquangnam
I – Lời người dẫn truyện.
Tại hiện trường Văn chương Việt Nam, tính từ năm 1898 đến nay 2022 đã có sự hiện diện song hành hai tác phẩm có nội dung giống nhau đến hơn 90 %. Một là, tiểu thuyết thơ viết bằng Việt ngữ , Truyện Kiều của Nguyễn Du mang tên đúng là Đoạn Trường Tân Thanh. Hai là, một bản văn bằng Hoa ngữ, giọng văn bạch thoại chương hồi, mang tên Kim Vân Kiều truyện, nay được cho là do “Thanh Tâm Tài Nhân“ đời thời Minh Thanh viết. Bản văn thứ hai này còn gọi là bản văn A953, kéo dài từ 1898 đến tận cuối thập niên 70 với tên [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)]. Đến đầu thập niên 80 của thế kỷ thứ 20, bỗng dưng xuất hiện thêm bản văn [Á-A953 ],tức bản văn “Kim Vân Kiều Truyện do Lý Trí Trung hiệu điểm - Xuân Phong Văn nghệ Xuẩt bản xã - Liêu Ninh, 1983.” do Đổng Văn Thành, Tàu (Bắc Kinh), hô hoán đó là bản gốc nằm tại thư viện Đại Liên vào năm 1983. Tất cả các bản văn vừa kể đều liên quan đến câu chuyện “Vương Thúy Kiều với có liên quan đến 8 nhân vật gồm 4 nữ: Thúy Kiều - Thúy vân – Đạm Tiên và Hoạn Thư và 4 nam: là Kim Trọng -Thúc sinh – Từ Hải –Hồ Tôn Hiến.
Loạt bài này có nhiều bài viết liên quan hữu cơ đến nhau, thế nên các Bạn Ta phải theo dõi để khỏi lạc lõng vì các THUẬT NGỮ Văn học và sự kiện diễn biến phức tạp do từ các nguồn bài viết được lên các trang mạng từ trong nước đến cộng đồng Người Việt Hải Ngoại tại nước ngoài . Tất cả sai lầm hay các phát ngôn đậm nét tiêu cực từ xưa đến nay khi viết về nguồn gốc Truyện Kiều đều do vì sự không “ khảo sát trên một diện rộng “ các bản văn của người Việt đương thời có liên quan đến câu chuyện nàng Vương Thúy Kiều con trưởng nữ của Vương viên ngoại .Đó là hệ thống [K5]
[K5] là gì ?
Đó là một hệ thống gồm 5 văn bản do người Việt viết trong vòng 50 năm. Một là từ bản văn của quan “Cần Chánh Điện Học Sĩ kiêm Lễ
Bộ Hữu Tham Tri” khởi đầu và hai là Thám hoa Ngụy khắc Đản kết thúc
[K(Nguyễn Du,Đoạn Trường Tân Thanh ),1815 –K (HạoNhư,Kim Vân Kiều lục ),1815-1816+ K(Thám Hoa,“Kim Vân Kiều chiệp” ,tuồng Kim Vân Kiều ),1865 + [Phong Tuyết chủ nhân Thập Thanh Thị ,Nguyệt nhi cao" ] ,1828 + [Minh Mạng] ,1830 Thanh Tâm Tài Tử cổ kim
Qua [K5] , có hai bản văn phủ nhận sự tồn tại của bản văn A953 tức bản văn (KVKT/TTTT) sau này là (_KVKT/TTTN.) có mặt tại Việt Nam vào thời điểm 1815-1884, (sđd(2)
Từ niềm tin đó, Bạn Ta có thể đọc phần dưới đây trong một tinh thần khác cho dù người phát ngôn họ là ai? . và phát ngôn của họ trở nên lạc điệu
II – Nhập cuộc
Tại phần thứ nhất này chúng ta sẽ được tiếp cận các điều tiêu cực nhất do lớp người Người-Đọc phát tán thông tin qua sách vở lẫn trên không gian ảo . Chính từ sự dễ dãi của chúng ra đã tỏ ra tạm hài lòng với các cụm từ, “Nguyễn Du không dịch”, “Nguyễn Du cải biên’, “Nguyễn Du đã sáng tạo mới từ một bản văn rất tệ mang tên là Kim Vân Kiều truyện , do Thanh Tâm Tài Nhân người đời thời Minh Thanh viết.
Đã có một tiến sĩ Văn chương người Mỹ khi đọc Truyện Kiều qua một bản văn Việt ngữ rất cũ của một người mẹ vợ ông cho ông. Bà là một người phụ nữ người Cần thơ sống vào giữa thập niên 65, sau đó đến năm 1981 vị này trình luận văn tiến sĩ Văn chương về đề tài “THE EVOLUTION OF THE WANG CUIQIAO TALE from Historical Event in China to Literary Masterpiece in Vietnam" tại đại học Đại học Havard (Hoa Kỳ) . Ông tên là “Charles Charles Benoit . Trong bản luận văn này ông đã khảo sát rất kỹ về câu chuyện liên quan đến ba nhân vật Thúy Kiều-Từ Hải-Hồ Tôn Hiến trong kho tàng lịch sử nước Tàu. Ông cũng tìm hiểu tại sao lại có sự giống nhau một cách “ mờ ám “ giữa hai bản văn, Truyện Kiều của Nguyễn Du và bản văn cái gọi là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông dè dặt từ niềm tin của người Việt rằng đã có một Thanh Tâm Tài Nhân viết bản văn này. “Thanh Tâm Tài Nhân“ , ông là ai ? . Và Charles Benoit đã đi đến tận cùng của câu trả
lời, rằng trong lịch sử Văn chương Trung quốc không hề có một ai mang tên đó. Điều này cũng dễ hiểu, cụm từ “ tài nhân” người Trung quốc thường dùng để chỉ thứ bậc các người thiếp của nhà vua. Tài nhân trong cách dùng của người Việt vay mượn Chữ Hán có thể lấp lẫn với “nhân tài”. Vào năm 1965 đã có một người Hoa Chợ lớn là Lý Văn Hùng, ông này đã để ra nhiều năm đi tìm nhân thân thật của “Thanh Tâm Tài Nhân“ tại HongKong & Đài Loan ( TAIWAN). Vô phương. Cuối luận văn của mình , Charles Benoit kết luận, “Nguyễn Du đã đọc một nguồn văn bản khác” khác với A953 , ông nêu ra một ví dụ minh họa, đó là câu 2451- Có quan Tổng đốc trọng thần//2452- Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài. Câu này hoàn toàn không có trong bản văn A953 tức bản văn [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)] Ngày nay người Tàu cố xóa sự tồn tại của bản văn A953 viết qúa dở, họ đã thay bằng bản văn [Á-A953 ] tức bản văn “Kim Vân Kiều Truyện do Lý Trí Trung hiệu điểm - Xuân Phong Văn nghệ Xuẩt bản xã - Liêu Ninh, 1983.” . Thực chất bản văn này viết lại trên nền A953 của ta. Nay chỉ cần đối sánh vài chi tiết, gót chân Achilles lộ ra tức thì tại hồi 14 và hồi 20. Trong việc đi tìm ai đã viết bản văn A953 thì chúng ta rất dễ tìm thấy sự sao chép lại của người Việt qua nền [K5] từ người Hoa Cholon vào nửa cuối thế kỷ thứ 19 đó là ông Duy Minh Thị . [K5] đã được người Việt trước tác trong vòng 50 năm, từ năm 1815 khi bản văn Đoạn Trường Tân Thanh ra đời và kết thúc bằng bản văn “Kim Vân Kiều chiệp” tức tuồng hát bộ của Thám hoa Ngụy khắc Đản trước tác vào năm 1865 (+-5 ). Chúng tôi sẽ trở lại câu chuyện Gót chân Achilles trong một bài khác.
Cần nhắc lại, một bản văn quan trọng nằm trong số 4 bản văn nguồn mà Nguyễn Du đã có xử dụng, chính là hý kịch Thu Hổ Khâu của Vương Long viết vào năm 1676. Ba bản văn kia là Minh sử, là Ngu Sơ tân Chí mà Phạm Quỳnh đã cất công dịch và giới thiệu và cuối cùng là "Tình sử Phùng Mộng Long" với 24 dạng thức tình trong Văn học Trung quốc qua 804 câu chuyện nhỏ trên dưới 1000 từ .
Vào tháng ba năm 2016 , tiến sĩ Nguyễn Nam (*) đã viết các giòng dưới đây liên quan đến nguồn gốc Truyện Kiều như sau :
1-“ Từ những năm 1880 đến tận năm 1919, các học giả Pháp và Việt Nam như Abel des Michels, Georges Cordier,Henri Maspéro, hay Thượng Chi Phạm Quỳnh đã lần lượt đoán định và đưa ra những giả thiết khác nhau về lam bản của một tác phẩm mà nay được công nhận là kiệt tác văn chương thế giới - Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thế nhưng phải đợi đến năm 1924, khi Phan Sĩ Bàng và Lê Thước nhắc đến “một quyển tiểu
thuyết Tàu, nhan là Kim Vân Kiều truyện” như là căn tích của Truyện Kiều,và khi điều này được Dương Quảng Hàm xác nhận khoảng 17 năm sau đó (1941),vấn đề lam bản mới có được giải đáp căn bản. “ (1)
Lớp Người-Đọc vừa kể trong đoạn (1) nói trên, tất cả họ đều không biết gì về sự tồn tại của 4 bản văn ngoài bản văn Truyện Kiều xuất hiện tại Việt Nam trong hệ thống Kiều [K5] như chúng tôi đã đề cập bên trên khi họ phát ngôn về nguồn gốc Truyện Kiều .
Các vị Lê Thước và Dương Quảng Hàm đã không biết gì về hệ thống [K5] này. Họ đã đọc Truyện Kiều , thế nhưng không hề viết về kết cấu Truyện Kiều cho thật tốt để từ đó nhận chân ra ra rằng Nguyễn Du đã tiếp cận nguồn văn bản nào trong quá trình sáng tác của mình.
Tại trang Facebook TÌNH TỰ DÂN TỘC , chúng tôi đã lần ra các vết vay mượn từ kho tàng Văn chương Trung quốc sau chuyến đi Thanh vào hai năm 1813- 1814 của hai cha con Nguyễn Du , cả hai đều cùng có tác phẩm để đời. Cha là, Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh và con là Nguyễn Tứ, người trưởng nam hay văn chương nhất mà ông đã có được với tác phẩm Kim Vân Kiều lục viết bằng chữ Hán, dạng tiểu thuyết Tài tử- Giai nhân chính quy với giọng văn ngôn trường lớp. Chính cái chết đột ngột của Nguyễn Tứ vào năm 1815-1816 đã khiến cho Nguyễn Du ngưng viết,ngưng sửa chữa Truyện Kiều do vì ông đã quá đau đớn điều này đã được sử nhà Nguyễn ghi lại lúc ông lâm chung. Nguyễn Du cho rằng sự nghiệp Văn chương của nhà Nguyễn Tiên Điền đến đây là dứt “?” & “!”.
Do lớp Đàn Anh, họ đã làm Người-Đọc có thuộc tính “đọc thoáng qua, đọc kiểu cỡi ngựa xem hoa”. Họ đã bỏ qua nhân vật Đạm Tiên có liên quan chặt chẻ đến hý kịch Thu Hổ Khâu của Vương Long đời Thanh viết vào năm 1676 . Với muc đích “mượn chó mắng mèo” , Vương Long ngầm kêu gọi người Hán từ bỏ thân tôi mọi cho nhà Thanh, khi mình cong lưng ăn chén cơm thừa canh cặn ,nhận chút quyền bính từ Thanh triều trao cho. Vương Long đã tái tạo hai nhân vật chính là Thúy Kiều-Từ Hải- ,ông cho mang cả hai một cốt cách khác, khác với những gì trong Minh sử cũng như trong câu chuyện Từ Hải Bản Mạc của Mao Khôn , hay bản văn Ngu Sơ tân Chí của Dư Hoài hay Vương Thúy Kiều của Phùng Mộng Long đã mô tả. Vương Long đã đặt tình yêu tổ quốc lên trên hết qua nhân vật Cui Qiao [翠翹] và Từ Hải (Tàu)/[徐海]Xú hǎi đã đặt tình yêu trước công danh sự nghiệp “ do “ngoại bang cấp cho “..
Từ đây Nguyễn Du xây dựng nhân vật Từ Hải ( Việt ) xuất thân từ một người dân Việt có tinh thần Lục Vân Tiên, mượn hình ành của Hoàng Sào, kẻ khởi binh chống lại vua Đường hoang phí trụy lạc, làm khổ nhân dân. Nhân vật Hoàng Sào, tức Từ Hải Nguyễn Du, với khí chất nghệ sĩ qua câu 2174- Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. Thế nhưng, sau đó nhiều người đã vin vào câu 2496 "Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào) , câu Kiều này nằm trong ngữ cảnh sau 2493- "Ngẫm từ dấy việc binh đao/2494- "Đống xương vô định đã cao bằng đầu/2495 - "Làm chi để tiếng về sau/2496- "Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào/2497- "Sao bằng lộc trọng, quyền cao/2498- "Công danh ai dứt lối nào cho qua?"/2499- Nghe lời nàng nói mặn mà/2500- Thế công, Từ mới đổi ra thế hàng/; đã cho rằng nàng Thúy Kiều “có ý chê Từ Hải (Việt) bất trung. “Văn chương tự cổ vô bằng cớ!, trước đó tại câu 2494- "Đống xương vô định đã cao bằng đầu ==> dân chết, người vô tội chết; Và gán nhãn cho Kiều rằng nàng đã cho Từ Hải là bất trung khi chống lại nhà vua. Có thật như thế chăng?. “Văn chương tự cổ vô bằng cớ ,chúng tôi nghĩ, không phải như thế đâu. Hoàng Sào bị chê do vì không liệu sức mình, “đường dài hay sức ngựa“.
Trong hệ thống [K5], bản văn của Thám hoa Ngụy khắc Đản đã viết đoan tuồng này rất rõ như sau :
Nghênh ngang một cõi biên thùy
Tuồng KIM VÂN KIỀU,“Kim Vân Kiều chiệp” do tiến sĩ Phan thị Thu Hiền dịch .
TỪ HẢI
Từ rày mỗ đổng nhung ( = từ ngày ta nắm việc quân)
Chưa thấy ai đấu lực .
Đánh trăm trận, người đều thua sức,
Phá năm thành, chúng thảy kiêng oai.
( =đạp đổ năm thành ,K2443-2444)
Chớ chi hay Trung Quốc không ai,
Thời ta đã xuất binh cửu hĩ.
( =nếu hay Quân triều dình yếu như thế thì ta đã xuất binh lâu rồi)
KIỀU:
Đại vương sao chẳng nghĩ,
Trung Quốc dễ không ai.
Chẳng qua bình trị đã lâu ngày,
Nên nỗi tướng binh không xuất trận.
Miếu đường thượng dầu không lương tướng,
Thảo lai trung dễ thiếu anh hùng.
(= triều đinh thiếu tướng tài nhưng trong dân còn lắm anh hùng)
Sanh dân cửu khô’ binh nhung,
Thánh thượng tất nhiên niêm mạc
.( = dân còn bị đại nạn binh đao dây dưa ,chắc nhà vua phải rũ trướng mà kếu gọi người tài ra giúp nước )
TỪ HẢI tán:
Phu nhơn hảo ngữ,
Chỉ thị gia mưu.
Tuy khuê các nữ nhi,
Đổng nhung nắm giữ việc quân.
( =phủ nhận nói phải .Thực là mưu hay .Tuy nàng ở chốn khuê phòng mà nào có khác chi lương tướng triều đình. Thực tế trước đó từ khi Thúy Kiều trở thành Vương phu nhân nàng đã dạy quân binh Từ Hải cách hành xử an dân… ). Vậy vụ việc đã rõ. (**)
Ngày nay với sự góp mặt của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã giúp chúng tôi nhìn ra ai đã viết Kim Vân Kiều truyện và ký tên “Thanh Tâm Tài Nhân“ . Nay qua quyển KIM VÂN KIỀU TÂN TRUYỆN, 1872 của Duy Minh Thị viết vào trước năm 1871, hoàn chỉnh năm 1872. qua bản in mới mang tên “Kim Vân Kiều tân truyện ,tân thuyên Duy Minh Thị 1872”. Chính vì thế cho nên "Định Đề Hoán thai đoạt cốt" do Đào Duy Anh và Dương Quảng Hàm xây dựng đã sụp đổ hoàn toàn. Bản văn “Đào Duy Anh: Khảo luận về Truyện Thúy Kiều. Nhà xuất bản Văn hóa HaNoi 1958" ngày nay đã trở thành bản văn độc hại kể cả Chương 18 trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu của giáo sư Dương Quảng Hàm cũng cần được gởi bỏ ra khỏi giáo trình bậc học phổ thông ngày nay . Chúng ta đã có quá nhiều “Các thầy ta “ viết bài này sau năm 1975 hầu hết Họ đều đều thuộc hệ phái là Người-Đọc tin hoàn toàn tuyệt đối có bản văn Kim Vân Kiều truyện(20 hồi)) do “Thanh Tâm Tài Nhân?“, người Tàu đời Minh viết, tức họ thuộc lớp nhai lại như chúng tôi đã xếp hạng như trên.
Hệ lụy nhãn tiền xuất phát từ việc không hề biết hệ thống [K5]
Một hệ lụy nhãn tiền, từ chính người Việt xấu xí đã tự mình bôi tro trát trấu vào tiền nhân mình. Tàu nhân cơ hội bèn ra tay. Họ quyết
tâm thi hành thủ đoạn chiếm đoạt, việc khởi đi từ khi Mao về lục địa vào năm 1949. Nhân vật Hoàng Dật Cầu thừa cơ khi nền hòa bình vừa lập lại trên đất nước ta, họ đã chèn ngay bản văn [Fakenews] vào Viện Hán Nôm, do vì Ta lúc này đã thiếu cảnh giác rằng, mình đang là người nắm giữ sự thật duy nhất giữ báu vật , tức bản văn A953 tức [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)] . Chính người Việt, họ đâu có ngờ rằng người Tàu + đã quá bẩn như thế! Bước kế tiếp, ngành Văn học so sánh của Tàu phát triển từ thập niên 60 sang 70 của thế kỷ thứ 20, họ đã đi bước trước Bắc Việt Nam khá xa , trong khi đó, trong Nam cho dù đã có tiến bộ nhiều thế nhưng cũng chỉ là hiện tượng tự phát qua các bài viết đăng trên Nguyệt san Văn hóa Á châu hay Văn hóa Nguyệt san trong thập niên 60 -70. Tại Đại học Văn khoa Sài Gòn dòng Văn học so sánh mới lạ này có mang ra giảng dạy với hai giáo sư Nghiêm Toản và Thanh Lãng v.v… …
Sự việc trở nên nổi đình đám với nhân vật Đổng Văn Thành tiếp nối theo lòi dạy của Mao như chúng ta đã biết qua loạt bài trên TALAWAS, (sđd(3) về Nguyễn Du .
Hiện nay ở ta đã có một sự thật đau lòng. Sự xuất hiện Trường phái Người-Đọc duy nhất thuôc cánh phê bình mang màu hệ phái Dosa mà thôi. Lớp người này tin hoàn toàn tuyệt đối rằng đã có bản văn Kim Vân Kiều truyện(20 hồi)) do “Thanh Tâm Tài Nhân?“, người Tàu đời Minh viết sẳn. Niềm tin của lớp người có "Tâm thức người nô lệ" đã làm thành một vết hằn trong não trạng học sinh phổ thông, trong khi đó chúng ta cần vô cùng NgườiĐọc thuộc hệ phái nhận thức luận [Epistomology] để giải nọc độc do lớp Đàn Anh đã để lại
Ngày nay với sự tiến bộ của bộ môn “liên văn bản học”, NgườiĐọc [Epistemist ] là thành phần cơ bản nhất, họ thuộc Trường phái Nhận thức luận [Epistemology]. Chính họ đã bác bỏ niềm tin vu vơ của lớp Đàn Anh vào lời nói của hai tiến sĩ khóa 2, năm 1826 thời Minh Mạng đó là Nguyễn văn Thắng ( qua Đào Duy Anh ) và tiến sĩ Vũ Thì Mẫn, (1795-1866) ,qua niềm tin của phó giáo sư tiến sĩ Vũ Nho (*) một người đã làm lâu nay trong bộ GD.
Nghĩ cũng cần nhắc lại rằng, đã có một bản văn phủ nhận hoàn toàn ý kiến nêu trên bắt đầu từ Đào Duy Anh tin Nguyễn văn Thắng, đó là bản văn của nhà vua Minh Mạng. Bài tổng thuyết của vua Minh Mệnh (1830) được viết có các nhà khoa bảng Hàn lâm viện biên tu thời Minh Mạng hổ trợ. Trong đó có Hà tôn Quyền (1798-1839) (Hội
Nguyên). tiến sĩ khóa 1 ,năm 1822. Ông là học trò của Phạm Quý Thích, Lại bộ Tham tri kiêm Hàn lâm viện kiểm thảo. Hà Tôn Quyền người rất được nhà vua Minh Mạng tin dùng tham vấn hàng ngày từ Văn chương đến chính sự. Thiết nghĩ cũng nên nhớ rằng ,nhà vua Minh Mạng rất nghiêm túc , ông đã phạt rất nặng Hà Tôn Quyền khi Hà Tôn Quyền chú giải bản văn của nhà vua bị sai sót về điạ danh.
Hà Tôn Quyền là học trò của Phạm Quý Thích. Ông hiện diện trong số 20 tiến sĩ đầu tiên đó. Rằng trong hai khoa tiến sĩ 1822 ,1826 đã có rất đông học trò của Hoa Đường,người Hải Dương thuộc nước Đại Nam , là Phạm Quý Thích. Tại khóa hai, 1826 cũng có thêm tiến sĩ Vũ Tông Phan đỗ thứ hạng rất cao.
Ngoài ra lớp Người- Đọc này họ không hề biết gì về hệ thống văn khố được tổ chức lại một cách chặt chẻ dưới thời Minh Mạng. sđd(4 )
Niềm tin của Người-Đọc
1-Từ sự giả mạo tinh vi, với cách trình bày bìa chuyên nghiệp của Duy Minh Thị, là một người in sách, là một người buôn bán sách chữ Hoa,là một nhà viết sách sừng sỏ sống vào cuối thế kỷ thứ 19 tại Nam bộ. Nhiều người Việt đã măc lỡm ông . Ông đã trình bày bìa sách như vầy [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)] xem hình đính kèm. Hai trang đầu của bản chép tay ghi Quán Hoa đường; trang bìa (phải) với các dòng chữ đọc từ phải sang trái “Thanh Tâm Tài Nhân biên thứ 青心才人編次; Kim Vân Kiều 金雲翹 Quán Hoa đường tử hành ; 貫華堂梓行”; (梓 tử = xuất bản )
2-Niềm tin vào cụm từ “ Ngũ Vân Lâu “ của Nguyễn văn Thắng do Hoa Bằng phát hiện vào năm 1943 trong tạp chí Tri tân. Với một sự lý giải mù mờ. Niềm tin của phó giáo sư tiến sĩ Vũ Nho,tác giả quyển
“ Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều,so sánh và bình luận nxb TN,2019 “ tin vào lời của tiến sĩ 1826 Vũ Thì Mẫn, sau đổi là Vũ Đức Mẫn (1795-1866), (sđd(5).] Chúng tôi đã bác bỏ mọi sự lý giải bằng qua sự tồn tại của bản văn Bài tổng thuyết của vua Minh Mệnh (1830) có sự tham gia của Hà tôn Quyền (1798-1839) (Hội Nguyên). tiến sĩ ,Lại bộ Tham tri kiêm Hàn lâm viện kiểm thảo.
Do bởi người đương thời quanh họ , giỏi hơn họ rất nhiều là 18 vị tiến sĩ còn lại . Gồm 10 người thuộc lớp đàn anh, tiến sĩ khóa 1822 trong đó Hà tôn Quyền (1798-1839) (Hội Nguyên). tiến sĩ ,Lại bộ Tham tri kiêm Hàn lâm viện kiểm thảo.
III -Chú thích và nguồn sách tham khảo
(*) bài này nằm trong chuổi đề tài ,“ Sự thật về Lam bản hai bản văn Đoạn Trường Tân Thanh Và Kim Vân Kiều truyện do “Thanh Tâm Tài Nhân“ viết
(*)Tiến sĩ NGUYỄN NAM là người Việt Nam được xếp vào hàng đầu trong khả năng hiểu biết về "lam bản" Kim Vân Kiều truyện.
Ông đã đến học tại trường Đại học HAVARD ( HOA KỲ ). Thầy của ông chính là đã hướng dẫn cho Charles Benoit (LÊ VÂN NAM) trình luận văn tiến sĩ Văn chương về đề tài “Charles Benoit "THE EVOLUTION OF THE WANG CUIQIAO TALE from Historical Event in China to Literary Masterpiece in Vietnam" trươc đó mươi năm ông đã cùng đồng đội dịch bản luận văn này và nhà xuất bản vào năm 2016 nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du . ngày nay việc chọn bản văn nguồn để trích dẫn phải được xem nhu điều quan trong bước thứ nhất trong các bài viết về nguồn gốc Truyện Kiều và bản văn [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)]
Việc chọn một nhân vật người Việt Nam có thẩm quyền về nguồn gốc Truyện Kiều hiện nay rất hiếm, ít nhất họ phải thuộc về lớp NgườiĐọc [Epistemist ], tức Người Đọc có Nhận thức luận [Epistemology]. Chúng ta là đang rất cần lớp NgườiĐọc này
Lớp Đàn Anh của chúng ta xưa nay là lớp Người-Đọc thuộc Trường phái Dosa tức là lớp người đọc không chuyên nghiệp, .
Lớp Người-Đọc này đa phần họ mang thuộc tính “ nhai lại”, cho dù nay đã lận lưng tiến sĩ là phó giáo sư, tiến sĩ . Họ đã có thói quen xấu là Copy & paste từ kiến văn người đi trước. Lớp nhai lại này có niềm tin do "Tâm thức người nô lệ" mà có. Họ không dám phát ngôn về một ý tưởng mới gì về nguồn gốc Truyện Kiều, điều đó nay đã trở thành quy ước. Các câu tiêu cực phải được xuất hiện ngay từ các dòng đầu tiên trong các bản luận văn từ cấp Thạc sĩ đến cấp tiến sĩ ,thế nên nay là giáo sư đại học họ lại càng cũng không dám, bởi họ đang chờ tấn phong hàm phó giáo sư hay giáo sư .
1-http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102
Đổng Văn Thành,So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam,3 kì,Phạm Tú Châu dịch
(2) chúng tôi không thừa nhận có bản văn mang tên nhà vua Tự Đức được cho là đã xuất hiện vào năm 1871 . Bản văn này mang tên “Bài Tổng từ của vua Tự Đức ,1871 “ . Do vì –bản văn ra đời trong lúc tình hình đất nước ở giai đoạn dầu sôi lửa bỏng , người Pháp đang lấn ra Bắc. Bản văn quá nhiều từ phạm húy rất nặng. Bút lực rất tầm thường mang chất vần vè , chỉ có mỗi việc chơi chữ với vần “iên” ,đó là lối chơi chữ ở dạng thấp nhất khi xướng hoạ thơ Đường không xúng tầm của một vì vua hay chữ nhất của nhà Nguyễn . Toàn văn bản không mang một chút gì có chất khám phá về sự tinh hoa của bản văn Đoạn Trường Tân Thanh .Vả lại năm này thì Duy Minh Thị đã xuất hiện, và đã cho ra mắt bản văn Kim Vân Kiều tân truyện . So với bản văn Bài tổng thuyết của vua Minh Mệnh (1830) thì thua quá xa. Bản văn Minh Mạng ra đời .
khi nhà vua mừng thọ 40 tuổi , và duyệt lại 10 năm cầm quyền với thành quả cao nhất về Văn hóa , Văn chương . chắc chắn là do người đời sau chèn vào.
NgườiĐọc viết dính liền chỉ rằng đây là một thuật ngữ văn học chỉ rằng đây là thành phần thứ ba trong hệ thống “liên văn bản học” gồm tác phẩm tác giả và NgườiĐọc (gồm người đọc ,người-đọc( trở thành người phê bình ngang xương do câu phán xét về nguồn gốc Truyện Kiều. NgườiĐọc [Epistemist ], ký tự này chỉ nhà phê bình thuộc Trường phái Nhận thức luận [Epistemology]
(3) “Đổng Văn Thành ,TALAWAS, Nguyễn Du “ ==>
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102
Đổng Văn Thành,So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam,3 kì,Phạm Tú Châu dịch
(4). Xin tìm đến các trang tư liệu này .
1-Võ Hương An Từ điển nhà Nguyễn, NXB TH-TP HCM ,2021
2-Nguyễn Văn Thâm & đồng sự -Lịch sử lưu trữ việt nam ,nxb đại học quốc gia tphcm ,2010
3-Nguyễn Hưng Quốc,MẤY VẤN ĐỀ PHÊ BÌNH VÀ LÝ THUYẾT VĂN HỌC,NXB VĂN MỚI.Ca,USA.2007
4-Trang Facebook nhóm TÌNH TỰ DÂN TỘC, và trang Facebook cá nhân laiquangnam
5 - [http://khxhnvnghean.gov.vn/?x=363/gioi-thieu-chung/mot-so-tu-lieu-co-va-dan-gian-xu-nghe-lien-quan-den-nguyen-du-va-truyen-Kiều]
nếu link không dẫn đến bài viết thì Bạn Ta gõ “tiến sĩ Vũ Thì Mẫn, sau đổi là Vũ Đức Mẫn (1795-1866)”
&&&
Ngoài ra , Xin Bạn Ta đọc thêm hai bản văn này để biết người Tàu họ đã tiến hành ra sao trong việc chiếm đoạt xấu xa này
a)Những thẩm định mới về Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
http://vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/11211-nhung-tham-dinh-moi-ve-kim-van-kieu-truyen-cua-thanh-tam-tai-nhan
b) Tình hình nghiên cứu Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân) và Truyện Kiều (Nguyễn Du) của giới học thuật Trung Quốc
http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Vanhocnuocngoai/tabid/105/newstab/3042/Default.aspx
Tác giả: TS Bùi Thị Thúy Phương, TS Nguyễn Thị Diệu Linh
Cả ba tác giả trên, từ tiến sĩ Nguyễn Nam đến hai nữ tiến sĩ Bùi Thị Thúy Phương và tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Linh, tất cả Họ đều có niềm tin vững chắc rằng Nguyễn Du đã đọc [(KVKT/TTTT) / =>. (_KVKT/TTTN.)]. Điều này chúng ta không lấy làm lạ, do vì họ đã được đào tạo với niềm tin như thế khi họ học tại bậc học phổ thông trên Đất BẮC với bản văn “Đào Duy Anh: Khảo luận về Truyện Thúy Kiều. Nhà xuất bản Văn hóa HaNoi 1958". Đây đã được xem như là sách chuẩn phát biểu về nguồn gốc Truyện Kiều. Ngày nay vẫn còn tồn tại mệnh đề "Hoán thai đoạt cốt" trong sách giáo khoa bậc phổ thông và trong bộ Tổng tập Văn học Việt Nam. Sách của Đào Duy Anh chúng tôi đã xem là sách Rác từ khi trang Facebook TÌNH TỰ DÂN TỘC được thành lập vào năm 2019 ,một năm trước ngày kỷ niệm 200 năm ngày mất của Nguyễn Du.
Chú thích đặc biệt
Bạn Ta có thể đọc bản văn của anh Lê Nghị tại trang -blogspot- http://phudoanlagi.blogspot.com/2020/09/thu-giai-ma-lai-truyen-kieu-le-nghi.html
và bản văn pdf trên Chim Việt Cành Nam
“lê nghị , Chim Việt Cành Nam” http://chimvie3.free.fr/baivo/lenghi/lenghi_KimVanKieu.pdf
&&&&&&&
(**) Vụ việc này không những chính chúng ta, mà ngay cả người trong cuộc là Tam Hợp Đạo Cô cũng nhìn người đã sai? .
Xin Bạn Ta cùng đọc lại câu Kiều
2685-"Hại một người, cứu một người
2686-"Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng
2687-"Thực công đức ấy ai bằng
từ “Hại” đa ngữ nghĩa.Hại không hàm ý 100% là Kiều đã giết Từ Hải (Việt). Hại mang nghĩa tiêu cực hay tích cực trong trường hợp này ?
Có hay không ý đồ của Nguyễn Du là dùng câu này ở trạng thái nước đôi. Dùng để che thân vì “tội khi quân hay chăng?”. Lúc Nguyễn Du còn sống, còn làm quan trong triều đình dưới thòi vua Gia Long đã có một vụ án oan,đó là vụ thảm sát cha con Nguyễn văn Thành , Nguyễn văn Thuyên khiến người anh rễ của ông là Vũ Trinh phải chịu tội lây ,do bởi Vũ Trinh là thầy dạy học.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Th%C3%A0nh_(nh%C3%A0_Nguy%E1%BB%85n)
Đó là một đặc tính rất riêng của Nguyễn Du trong việc dùng ngôn ngữ thể hiện. Một người như thế ,thì câu phát ngôn này sai
[ ZZZ, ĐÃ ĐỌC ĐẾN ĐÂY" thì tạm dừng vì công chuyện] câu hhgiap
Bài kỳ tới NGUỒN GỐC TRUYỆN KIỀU
VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN ,“THANH TÂM TÀI NHÂN“ (*)
Phần 2 Niềm tin nào đã đóng đinh trong đầu người Việt
laiquangnam
Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2021
"Cuộc chiến Ai thắng Ai ?"
NGÀY 11/ THÁNG 9/2021
"Cuộc chiến Ai thắng Ai ?" là một câu hỏi dành cho những ai quan tâm đến nguồn gốc Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện được cho là “Thanh Tâm Tài Nhân“ một người Tàu đời Minh viết.
Để rộng đường dư luận , chúng tôi cho đi Ý kiến này của anh Lê Nghị ,một người bạn đồng hành với chúng tôi trong "Cuộc chiến Ai thắng Ai ?" này
Lời người dẫn truyện
NGÀY 1/8/ 2019 tại TTVH Pháp tại HaNoi , Anh Lê Nghị là diễn giả chính nêu vấn đề “Nguyễn Du là người sáng tác hoàn toàn câu chuyện nàng Thúy Kiều và “Thanh Tâm Tài Nhân“ được cho là tác giả quyển Kim Vân Kiều truyện (20 hồi) bằng văn phong bạch thoại chính là Duy Minh Thị ,một người hoa Chợ lớn sinh sống vào giữa thế kỷ thứ 19 tại Nam Bộ thời Pháp thuộc “. Việc này gây sóng gió trong giới giáo sư đại học thuộc hệ phái HaNoi đào tạo. Đơn giản ,họ là những tiến sĩ xuất thân từ lò Nguyễn Lộc , người xây dựng nên TrườngpháiKiều Nguyễn Lộc. Trường phái này là con đẻ của Đào Duy Anh .Họ đã lấy công trình của Đào Duy Anh mang tên “Khảo luận về truyện Thúy Kiều , viết lại năm 1958 ” là nền cho học thuật của mình .Đó là những gì bạn ta có thể đã biết do vì tiếp cận cới trang Facebook TÌNH TỰ DÂN TỘC
Bài viết tiếp theo của anh Lê Nghị sau sự kiện đó , anh đã cho lên diễn đàn một blogger Phú Đoàn . Phó giáo sư tiến sĩ Vũ Nho đã cho lên trang chính thức của mình. Anh Vũ Nho là một phó giáo sư tiến sĩ đã có nhiều năm làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho đến sau 75 .
Sau đây là ý kiến của phó giáo sư về bài viết của anh Lê Nghị dưới đây
“Đây là một vấn đề thú vị nhưng rất phức tạp! Cám ơn tác giả đã có những nghi vấn đáng quan tâm! Tuy nhiên, với học giả Đài Loan Trần Ích Nguyên, tôi thấy ông đã rất công phu tìm hiểu KIM VÂN KIỀU và viết một cuốn sách cũng rất công phu " Nghiên cứu câu chuyện Vương Thúy Kiều". Bà Phạm Tú Châu đã dịch ra tiếng Việt, nhà xuất bản Lao Động, in năm 2014. Những điều nghi vấn mà tác giả Lê Nghị nêu ra tôi ghi nhận, nhưng cảm thấy cũng chưa đủ chứng cứ thuyết phục. Mong rằng giới nghiên cứu Việt Nam sẽ có thêm những tìm tòi. Riêng tôi thấy, dù Nguyễn Du có căn cứ vào bản Kim Vân Kiều hay căn cứ vào truyện của Mao Khôn để sáng tác Truyện Kiều đều không quan trọng. Quan trọng là với văn chương thiên tài,của cụ, Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác văn chương của thế giới, còn Kim Vân Kiều của Trung Quốc chỉ là một tiểu thuyết chương hồi khá, nhưng không thể sánh với các bộ tiểu thuyết Hồng lâu Mộng, Tam Quốc, Tây Du kí...Xin phép tác giả được chép lại bài của ông làm tư liệu..” Vũ Nho Ninh Bình 09:58 12 tháng 10, 2019
Lê Nghị và bài viết của mình
Văn học trong nhà trường
THỨ BẢY, 12 THÁNG 10, 2019
HOÁ GIẢI NỌC ĐỘC KIM KIỀU ÁN 1830 VÀ TỔNG TỪ TỰ ĐỨC 1871 - Lê Nghị
Tác giả Lê Nghị
HOÁ GIẢI NỌC ĐỘC KIM KIỀU ÁN 1830 VÀ TỔNG TỪ TỰ ĐỨC 1871
Thật ra bài này tôi đã chia làm 2 bài chi tiết đã đăng trang cá nhân, nhưng hôm nay tình cờ được chia sẻ 2 bài viết rất ngắn của một fb trẻ Nguyễn Tấn Sơn, tôi giật mình trước một hậu sinh khả uý, đặt ra những câu hỏi về Thanh Tâm Tài Nhân và Kim Thánh Thán mà trước đây cho là tác giả và nhà bình luận Kim Vân Kiều truyện. Vì vậy tôi đăng bài này sớm hơn dự định như là lời hoan nghênh một người thuộc thế hệ đàn em đã tâm huyết sưu tập sách và có một tư duy sắc bén.
Ở đây tôi muốn nói rằng khi Nguyễn Tấn Sơn khi nhìn vào đống sách Tàu Kim Vân Kiều truyện tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân đã không hề nao núng. Có bản lĩnh như vậy thì khi nhìn một bảng thống kê, ví dụ của tiến sĩ Nguyễn Nam về những thẩm định mới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng có một thái độ tương tự.
Trước hết đừng nhầm truyện Vương Thuý Kiều với Kim Vân Kiều truyện. Tiếp đến đừng nhầm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử của Việt Nam, cuốn ký hiệu A953.
Truyện Vương Thuý Kiều là một truyện ngắn của Dư Hoài khoảng 800 từ. Nguyễn Du đã mượn tên 3 nhân vật: Vương Thuý Kiều- Từ Hải- Hồ Tôn Hiến để làm vài đốt sống cổ , kết nối với một cơ thể hoàn chỉnh tạo nên Đoạn Trường Tân Thanh. Nói cách khác Nguyễn Du đã hư cấu ra 15 năm luân lạc của Kiều trước khi Từ Hải chết và sự tái đoàn viên của Kiều sau khi Từ chết. Có như vậy mới gọi là ông sáng tạo. Còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử A953 là cuốn bình giảng thơ Nguyễn Du. Nhưng bị hiểu ngược là cuốn tiểu thuyết từ đó Nguyễn Du dịch ra. Đó là theo lập thuyết của Tay Ngang này.
Cho nên khi đọc một danh mục thống kê một loạt các truyện người Trung Hoa khi nghiên cứu về nguồn gốc truyện Kiều. Đừng tưởng tất cả những cuốn đó là những cuốn truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nào đó bên Tàu. Chúng là những truyện dã sử ngắn, dài xoay xung quanh đề tài chính sử : Vương Thuý Kiều - Từ Hải- Hồ Tôn Hiến. Người Tàu muốn chứng minh Kim Vân Kiều truyện mà theo họ là Nguyễn Du đã dịch từ cuốn Kim Vân Kiều truyện của một tác giả vô hình TTTN người Hoa. Họ nêu lên những truyện đó trên 24 truyện ngắn dài, tình tiết khác nhau, xem như là nguồn hứng khởi để Thanh Tâm Tài Nhân viết nên Kim Vân Kiều truyện năm nào không biết.
Thực ra đầu tiên họ gán Thanh Tâm Tài Nhân cho Từ Vị, họ cất công ghi tiểu sử Thanh Tâm Tài Nhân trên Internet với đầy đủ chi tiết nhân thân của Từ Vị, một nhà văn nổi tiếng, đồng thời có lúc là tham mưu cho Hồ Tôn Hiến. Gõ vào Google là thấy liền. Nhưng sau khi bị Benoit và các học giả khác bác bỏ họ liền chuyển qua Kim Thánh Thán, Trương Quân...rồi Thiên Hoa Tàng chủ nhân. Nhưng sau đó tiếp tục bị bác bỏ, đến năm 1991 họ đành viết chính thức trong Đại Từ Điển chưa biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai, chỉ biết là một bút danh.
Thế nhưng từ rất lâu, 1947, các học giả như Đào Duy Anh rồi Dương Quảng Hàm lại nói chắc như đinh đóng cột rằng tác giả Thanh Tâm Tài Nhân là tác giả cuốn Kim Vân Kiều truyện! Tại sao vậy? Vì hai cụ đã đọc Văn Học Sử Trung Quốc và thấy tác giả Cổ Thực năm 1926 và Đàm Chính Bích năm 1936 đã ghi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vào thư mục. Không thể trách hai cụ. Thời đó làm sao thẩm tra? Từ đó các tay dọc thao túng văn học miền Bắc tin theo và tiếp tục rao giảng thông tin trên.
Trong thập niên 1960 ở miền Nam lại có thêm học giả Giản Chi nghe thông tin từ một người bạn người Hoa bảo rằng có cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, bút danh khác của Từ Vị. Ông nghe từ trước 1954 ngoài Bắc, ghi vào sổ tay và vào Nam ông viết lại. Nhưng sách giáo khoa miền Nam không hề đưa vào dạy học sinh. Chỉ những người tham khảo cỡ học giả mới biết bài của ông. Những người phản đối có Lý văn Hùng. Tất cả nguồn tranh luận là chuyện ngoài học đường.
Từ năm 1975 các thầy cô đến nay cứ dạy học sinh là mở đầu xem như thông tuệ là : Nguyễn Du đã phóng tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, một cuốn tiểu thuyết tầm thường. Các thầy cô chưa ai đọc cuốn này cho đến năm 2012 may ra mới có người đọc nhờ tái bản cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử Việt Nam (tuỳ tiện đổi tên ra Thanh Tâm Tài Nhân cho phù hợp với cách gọi của một tác giả huyền ảo bên Tàu) với lời quảng cáo khéo léo của nhà thơ Anh Bằng: “Cho nên, nếu đọc lại truyện Kiều của Nguyễn Du,rồi lại đọc để so sánh với tiểu thuyết của TTTN, thì chúng ta đã kính trọng TTTN rồi, lại phải ngã mũ kính chào cụ Nguyễn Du đến hàng chục lần...”
Bao nhiêu bài viết bung xung trong sách, trên mạng với một loạt bút danh học thuật tay dọc, như một trò hề. Nhiều người trắng trợn viết Thượng Chi (Phạm Quỳnh) cũng nói như thế. Trong khi thuyết của Phạm Quỳnh là Nguyễn Du đã mượn bối cảnh truyện ngắn Vương Thuý Kiều của Dư Hoài trong phong tình lục, sát với lời thơ của Nguyễn Du: “phong tình có (cổ) lục còn truyền sử xanh”. Đồng thời sát với lời của Mộng Liên Đường: truyện Thuý kiều chép ở lục phong tình...
Theo tuyên bố của Đổng văn Thành năm 1981 lần đầu tiên ở Trung Quốc tìm ra một cuốn gọi là của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. Vậy thì các vị múa bút trước đó căn cứ vào đâu để dạy học sinh? Huống chi cũng năm đó tình cờ Benoit hình thành luận văn Tiến sĩ Harvard về truyện Kiều. Trước đó ông đã đối chiếu hàng loạt tác phẩm chỉ ra cuốn mà Đổng Văn Thành gọi là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thật ra là cuốn Song Kỳ Mộng truyện, (Tàu còn cho tên là Song hợp hoan) khuyết danh. Cuốn mà Lý Chí Trung gọi là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hiện đang lưu hành, gọi là phát hiện tại thư viện Đại Liên theo di lục của Hồ Khoáng tại thư viện Bắc Kinh, thực ra không có. Trần Ích Nguyễn (Đài Loan) sau khi lục tung danh mục thư viện không thấy chỗ nào Hồ Khoáng ghi, trực diện hỏi Lý Chí Trung. Lý trả lời ông đọc đâu đó từ một bài viết ở một học giả Hồng Kông! Lạ thay, vậy mà có nguyên một cuốn sách 208 trang cho là cổ thư đã ghi nhận. Trần Ích Nguyễn tế nhị nói là một bí ẩn nhờ ai đó biết tường tận giải giùm!
Bản giữa là truyện Kiều của Nguyễn Du đặt in ở Phật Sơn- Quảng Đông
Thế nhưng như Benoit viết: từ 1830 người Việt tin là Kim Vân Kiều truyện do Kim Thánh Thán. Nguồn gốc do đâu? Thêm vào đó đầu thập niên 1960 học giả Hoàng Xuân Hãn cung cấp thêm chứng cứ bằng 3 quyển 2,3,4 có ghi Ngũ Vân Lâu bình luận. Ông gửi về từ Pháp, giáo sư Nguyễn Văn Hoàn vui mừng vì 3 quyển sách quý trở về. (theo lời dẫn của Nguyễn Văn Hoàn, báo Nhân Dân 24/8/1963 Hoàng Xuân Hãn đã mang về Pháp năm 1946 nay trả lại).
Bên cạnh đó giáo sư Hoàng Xuân Hãn bảo vệ luận điểm của mình, ông phân tích Kim Vân Kiều Án của Nguyễn Văn Thắng và Bài thơ Tổng thuyết của Tự Đức. Từ đó xác lập niềm tin cho thế hệ đương thời và lưu lại dấu ấn trong giới học giả đàn em. Trong bài này nêu lên độ tin cậy khi đọc tư liệu của người xưa. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được xem là nhà bác học uyên bác trên nhiều lĩnh vực. Không thể chối cãi rằng ngày nay ta cũng thừa hưởng rất nhiều kiến thức từ nhiều công trình giá trị của giáo sư. Nhưng như thế không có nghĩa ta không được phép xem xét lại ý kiến của giáo sư về nguồn gốc truyện Kiều. Cũng như ta không thể không tôn trọng những mâu thuẫn mà fb Nguyễn Tuấn Sơn nêu ra.
Về nguồn gốc truyện Kiều ta xét trả lời phỏng vấn của cụ Hoàng Xuân Hãn với nhà văn Thụy Khê:
“-Thưa bác, xin bác nói về quyển Kiều chữ Hán.�Hoàng Xuân Hãn: Truyện Kiều chữ Hán thì gốc tích bây giờ cũng biết rõ ràng. Trong Minh sử, đời Gia Tĩnh, có Từ Hải thực, một người giặc,kki và Hồ Tôn Hiến, ông quan dẹp giặc. Ta cũng biết rõ rằng Từ Hải là người bất kham, không chịu lệnh triều đình, muốn chiếm một vùng dọc biển hoặc các hải đảo để tự trị, tự do. Muốn làm thế thì phải gian díu với một tụi giặc thực, giặc bể, người Nhật Bổn, vào cướp đất Trung Quốc. Từ Hải có lúc cũng trốn, vì mang tiếng là giặc, vào đi tu thành thầy tu. Nhưng thầy tu vẫn đi chơi. Đi chơi cô đầu, gặp Kiều ở nhà cô đầu, tên là Mã Kiều vì tưởng là con gái họ Mã. Rồi Từ Hải lấy người ấy. Trong sử chép rõ ràng là Hồ Tôn Hiến được lệnh đi dẹp đám Từ Hải-Vương Trực. Vương Trực làm chủ, còn Từ Hải chỉ là một tay phụ mà thôi. Muốn dẹp bọn này, Hồ Tôn Hiến dùng kế đàn bà tức là dùng Kiều. Nhưng tên Kiều thì trong sử không nói tới. Trong sử chỉ nói là dùng người đàn bà. Đến lúc Từ Hải đã chịu thần phục nhà vua thì quân Hồ Tôn Hiến lại lừa, đánh úp, Từ Hải nhẩy xuống biển tự tử. Nói là tự tử với hai người vợ cùng nhảy xuống biển. Hai người vợ chứ không phải một đâu. Sự thực là thế, cuối cùng Kiều cũng tự tử với Từ Hải chứ không như chuyện trong tiểu thuyết. Rồi cái tiếng Kiều đời ấy chắc là to lắm, cho nên nhiều người đặt ra chuyện. Trước truyện Kiều, có một hai truyện ngắn, có thể nói là đoản thiên tiểu thuyết, về một người con gái Bắc Kinh, bị Tú Bà bắt cóc, nhận làm con gái gọi là Mã Kiều. Rồi Từ Hải lấy Mã Kiều. Cuối cùng thì tự tử với Từ Hải”.
�Đến Thanh Tâm Tài Nhân, người viết truyện dài quãng cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh, khoảng đầu thế kỷ XVII. Viết xong giao cho Thánh Thán. Thánh Thán là một văn sĩ giỏi mà lại biết phê bình, biết khắc ván để hoàn thành tiểu thuyết mà bán. Cho nên họ gọi là bản Thánh Thán là vì thế. Về Thanh Tâm Tài Nhân, hình như Thanh Tâm Tài Nhân có đề tựa và viết những chuyện khác nữa. Đó cũng là những chuyện thực hết cả.
�Bản Kiều ấy, tung bán khắp nơi rồi cũng bị sửa chữa. Tầu cũng như ta, có nhiều người đọc rồi sửa chữa lại văn. Hiện giờ có đến ba, bốn bản khắc. Mắt tôi được thấy bản Thánh Thán là một bản. Một bản tôi thấy ở Bristish Museum, văn hơi khác. Cách đây độ mươi năm, có người thấy ở trong thư viện, một thành phố rất nhỏ, thuộc đất nhượng địa cũ cho Đức, tôi không nhớ tên, gần Shantung, trong đó có nhiều tiểu thuyết cuối đời Minh, đầu đời Thanh, họ lấy ra và in ra. Nhà in ở Bắc, tên gọi là Xuân Phong , bản ấy tôi cũng mua được ở Paris đây. Và bên Nga, bên gì họ dùng bản ấy hết cả.
Nhận xét:
Ta thấy rằng đoạn đầu giáo sư lặp lại tích hệt Kỉ Từ Hải tiểu trừ bản mạt của Mao khôn và truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài -Phong Tình lục. Không có gì bàn cãi.
Đoạn giữa quan trọng, ban đầu cùng ý với các nhà nghiên cứu Tàu. Vì sau khi xem năm sinh và chết: Kim Thánh Thán (1610- 1661) mà Thanh Tâm Tài Nhân (1636- 1708). Nghĩa là khi TTTN 25 tuổi thì Kim Thánh Thán đã chết trước Khang Hy đăng quang 1 năm (1662). Thế mà trước đây cứ cho tiểu thuyết thời Minh- tác giả Từ Vị (1521-1593) không ổn, kéo gần hơn: Kim Thánh Thán viết thời Khang Hy, in thời Càn Long. Xem lại thì ông Kim Thánh Thán chết trước Khang Hy đăng quang một năm. Chả lẻ lại kéo gần thêm? Không khéo lại sau Nguyễn Du chết mất! Thế thì gán cho 2 nhà thơ khác vậy, cũng không ổn. Hoàng Dật Cầu năm 1959 gán cho Từ Chấn= Thiên Hoa tàng Chủ Nhân= Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng không ổn. Trần Ích Nguyễn và Đại Từ Điển Văn học sử Trung Hoa( Đài Loan) 1991, nói không biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai. Mặc nhiên định TTTN sinh 1636, chết 1707 !
Sau đây là ảnh của tranh minh họa truyện Kiều lưu tại thư viện Anh nói trên (trích từ sách của Charles Benoit- Nguyễn Nam và cộng sự dịch, 2016)
Có mấy nghi vấn mâu thuẫn:
Theo năm sinh, nếu có TTTN, chậm lắm thì năm 23 tuổi TTTN đã viết xong một tiểu thuyết, thì ông quả văn tài hiếm có. Hơn nữa, ngoài văn tài, ông phải có kiến thức rộng như Nguyễn Du, thông kinh sử mới đủ sức hư cấu một tiểu thuyết luận đề. Tác phẩm nêu một thực trạng xã hội thối nát nhà Minh, mà xuất bản, tồn tại thời Minh mới là lạ! Nếu tác phẩm đó từng xuất hiện thì phải là một tiếng sấm, được cả hai bên cai trị và bị trị cùng nghe. Vậy mà tuyệt nhiên không lưu lại một bài thơ, một bút tích người khác khen chê. Cũng như tác giả không lưu lại một vết tích có liên quan đến bạn bè, vợ con....tóm lại không có nhân thân!.
Nhưng sao lại biết ông sinh 1636 và mất 1708? (theo Trần Ích Nguyễn) Có phải rằng phi lý không?
Tương tự trên, có lời bình của Kim Thánh Thán thì ắt nổi tiếng như giáo sư nói. Sách bán phổ biến. Lọt qua Việt Nam, Nhật, Mãn Châu... Vậy tại sao Trung Hoa không còn lại bản nào? Văn học sử Trung Hoa đến Lỗ Tấn 1920 cũng không hề nhắc tới.
Hoàng Dật Cầu đặt giả thuyết là do nhà Thanh ghét giặc biển nên truyện cấm lưu hành. Nhưng truyện viết vào cuối đời Minh, nói xấu nhà Minh thì được nhà Thanh ủng hộ chứ sao lại cấm!? Cần nhớ rằng mặt nào đó đối với Kim Thánh Thán, ông là thần tử nhà Minh. Năm 1662, Khang Hy mới chấm dứt nhà Nam Minh và đăng quang sau Kim Thánh Thán mất 1 năm. Đối với Kim Thánh Thán, quân Thanh là ngoại tộc, ông kêu oan cho học trò chống quan quân nhũng nhiễu. Ông bị khép tội phò Minh chống Thanh, thì liệu một người như ông lại thò bút vào bình, hoặc viết một cuốn sách nói xấu nhà Minh không? Thêm vào đó lời bình của ông lại đôi lúc ngô nghê như một học trò tập bình văn!
Và quan trọng hơn nữa, không có một bài bình luận, phê bình, sách nào của tác giả khác nhắc tới tên tiểu thuyết và tác giả này trong suốt 265 năm. (cho đến 1926 nghe lõm đâu đó, chắc là từ An Nam mới ghi vào danh mục, chứ không có bản văn).
Chính vì vậy, xem xét văn bản các học giả Trung Hoa trước đã gạt Từ Vị là Thanh Tâm Tài Nhân, tiếp đến gạt Kim Thánh Thán ra khỏi sách, gắn cho 2 nhà thơ Trương Chiêu hoặc Trương Quân rồi Thiên Hoa Tàng Chủ Nhân. Như vậy thuyết Kim Thánh Thán ngoại thư, hoặc Quán Hoa Đường bình luận, “Thị biên Bắc nhân Thánh Thán trước” (Lời Tự Đức), viết hoặc bình Kim Vân Kiều truyện sụp đổ ngay từ khẳng định của các học giả Trung Hoa.
Ngoài 2 lý do trên từ học giả người Hoa, ta còn xét:
- Ngũ Vân Lâu là một nhà in ở Quảng Đông bắt đầu hoạt động đầu những năm 1800 kéo dài đến gần trăm năm. Vậy cuốn quyển 4 kVKT có in Ngũ Vân Lâu đó in năm nào? Làm sao mà biết được có trước Nguyễn Du? Có bìa mà sao không có niên đại nhà Thanh. Sách in lậu ư? Còn tích Vương Thuý Kiều như truyện ngắn, kịch không lẽ nhà in này không in. Các Thanh Tâm tài tử trong thời đó đều biết truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài, Kỷ Từ Hải tiểu trừ bản mạt của Mao Khôn mới dựa theo đó mà bình giảng thơ Kim Vân Kiều truyện (do Minh Mạng đổi tên- bút tích VNB 60, thư viện quốc gia, dẫn theo Trần Văn Giáp)
- Thêm vào những nghi vấn đó, có một điều học giả ít lưu ý cho đến cuối đời Tự Đức nhiều sách, kể cả truyện Kiều của ta phải đặt in bên Quảng Đông, vì nhanh, rẽ, đẹp( so sánh 2 bản in Kiều đính kèm). Vậy giả định sách Đại Nam: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử đặt in thì đâu có gì lạ? Số lượng đặt in, nếu có, sẽ không lớn vì nó không phổ biến như Truyện Kiều, vì ít người hiểu được âm Hán. Như vậy giá thành rất cao. Liệu nhà kinh doanh nào dám đầu tư không? Cho nên phần lớn là chép tay.
Đoạn cuối: nhà xuất bản Xuân Phong, đất Bắc như giáo sư nói thì đó là nhà in hiện đại, cuốn KVKT tên tác giả in lần đầu tiên tại đây là năm 1957 với lời đề tựa của Thiên Hoa Tàng Chủ Nhân, nội dung thì không khác với Ngũ Vân Lâu. Bản này Hoàng Dật Cầu sau khi qua Việt Nam, vào viện Hán Nôm tham khảo, về dạy tại Đại học Hoa Nam đã tặng ngược lại bản in sáp quyển 2,3,4 cho viện Hán Nôm. Trước đó Hoàng Dật Cầu, Tôn Khải Đệ đều nói Kim Vân Kiều truyện không còn ở Trung quốc mà!
Tóm tắt lại thì thuyết Kim Thánh Thán viết hoặc bình Kim Vân Kiều truyện của giáo sư HXH không còn thuyết phục về mặt tác giả lẫn xuất xứ quốc tịch. Tuy nhiên nhiều bài viết hiện nay không cập nhật thông tin, cứ lải nhải thuyết của giáo sư đến nỗi Benoit cũng bất lực: người Việt tin thế!
Thế nhưng để cho công bằng, và toàn diện, chúng ta xét vì sao Giáo Sư đã nhầm lẫn. Bởi vì giáo sư đã tin vào lời lẽ không chân thực của tiến sĩ Nguyễn văn Thắng trong Kim Kiều Án và lời lẽ mơ hồ của vua Tự Đức trong Tổng thuyết năm 1871, 4 năm sau khi mất lục tỉnh Nam Kỳ. Vì tôi đã có 2 bài viết riêng về tổng thuyết Minh Mạng và Tự Đức, nên bài này chỉ lướt qua, vì không còn là vấn đề quan trọng nữa, tuy nhiên do nhiều người vẫn chưa rõ nguồn cơn.
A. Kim Vân Kiều Án:
Nội dung Kim Vân Kiều Án là đứng trên quan điểm hủ nho phê phán truyện Kiều. Nhưng lời dẫn nhập có chi tiết đáng đề cập khiến người dễ tin nghe theo:
“Tôi sinh không gặp thời, học hành thiếu sót, thường nghe truyện Kim Vân Kiều chép bằng tiếng Trung Quốc (Bạch thoại), nguyên xưa do nhà Ngũ Văn lâu ở Bắc triều đã đem nguyên bản khắc in truyền mãi đến nay. Cho đến khi quan Đông các nước ta (tức Nguyễn Du) đem diễn thành quốc âm thì truyện ấy được phổ biến khắp nơi, chỉ nghe lời kể mà như được thấy mặt. Không chỉ các văn nhân tài tử mắt đọc mà tâm tình biến động, thần thái nhẹ nhàng, đến kẻ ngu phu bỉ phụ miệng ngâm tay huơ chân múa! Tôi trong buổi ấy còn đang long đong, rày đây mai đó, phiêu bạt khắp chốn giang hồ, chân chưa dừng bước, cánh bèo trôi dạt chưa bén rễ nơi nào, sống qua ngày tháng chẳng phải ưu tư. Mùa đông năm Canh Dần (1830) vì bị giam ở ngục, trọn ngày ngồi suông, không có gì để tả nỗi lòng, cho nên thường đọc truyện Kim Vân Kiều bằng quốc âm. Thật may mắn được biết những ngôn từ ấy. Nhưng nghĩ kỹ thấy trong 1.575 câu ấy, đầu cuối tiếp nhau, tả cảnh tả tình công phu tinh diệu, tiếc cho dẫu là thơ phú của Bằng quận công, Long Lĩnh hầu cũng khó có được vẻ đẹp như thế. Còn như hạng bọn tôi đâu dám tầm chương trích cú mà bày chuyện ra đâu! Tuy nhiên xét các nhân vật trong truyện, có người thì tài đáng yêu, nghĩa đáng khen mà đức hạnh thì có điều đáng tiếc. Có người thi tình đáng thương mà tính đáng răn, ác đáng ghét. Nhưng pháp luật không vì tình riêng,tội ác lẽ nào có thể dung tha mà luận bàn chung chung đươc! Lời nghị án cũ 500 năm sau án tình vẫn chưa có văn án rõ ràng thoả đáng! Nay tôi theo bản “Quốc triều luật lệ” xét đoán cho thấu chân tình, để không lưu lại sự ngưng trệ cho nghìn năm sau. Vì lẽ đó, tôi không ngại quê mùa mà trình một tiếng cười vậy !”
(bàn dịch Ngô Đức Thọ, bản dịch của Hoa Bằng không chú thích Trung quốc, bạch thoại)
Trước hết nói về Nguyễn Văn Thắng, là ông quan tham nhũng, bênh vực họ hàng buôn gỗ lậu bị Minh Mạng bỏ tù năm 1830. Một người dối vua thì liệu có nên tin như Nguyễn Du, Mộng Liên Đường, Phạm Quý Thích không? Trước khi ở tù ông không hề đọc Kiều, thế thì quan tâm gì đến nguồn gốc Kiều mà nói! Ông ngồi tù nghe phong phanh Minh Mạng tổng thuyết có ý bảo các quan Hàn lâm hợp sức bình giảng sao cho ổn. Ông viết bài chê Nguyễn Du lập công chuộc tội là thấy tâm địa xấu xa, ganh ghét người có tâm có tài rồi...
Không rõ sau đó ông được tha khi nào và mất luôn tung tích. Tuy nhiên từ 1871 sau tổng thuyết Tự Đức sách ông được in nhiều đợt tức phổ biến rộng rãi. Nói cách khác là hợp ý Vương triều. Ai đọc Đại Nam liệt truyện soạn từ Quốc sử quán triều Nguyễn, cũng thấy đề cập đến Nguyễn Du rất ngắn ngủi, lạnh nhạt.
B. Tổng thuyết Tự Đức 1871:
4 năm sau khi mất lục tỉnh Nam Kỳ, Tự Đức chắc cũng không vui vẻ gì mà tổ chức vịnh thơ Kiều hoặc bàn một cuốn tiểu thuyết dỡ hơi mà ông nghe nói từ bên Tàu. Vấn đề là xã hội càng mất lòng tin, loạn lạc nổi lên, ông tổ chức “ chỉnh huấn” tư tưởng các quan lần nữa bảo vệ vương triều như vua nội Minh Mạng, lấy cớ tổng thuyết Kiều. Do ông cố tình, hay vì cái tật sính thơ văn hào nhoáng, khoe thi tài, chữ nghĩa, ông làm bài tổng thuyết 140 câu thất ngôn, chỉ lấy một vần chủ đạo: iên.
Lẽ ra bài thơ ông nên phân đoạn, có lời mở đầu và chuyển mạch thì đã không hiểu lầm. Ví dụ mở đầu “ từng nghe” chuyển mạch: “ Song le”... Tôi trích phần mở đầu và chuyển mạch, nếu hiểu rằng có thật một cuốn Quán Hoa Đường bình luận, Kim Thánh Thán ngoại thư thì sẽ thấy mâu thuẫn, hoặc hơi ngô nghê
DỰC TÔNG ANH HOÀNG ĐẾ NGỰ CHẾ TỔNG TỪ.
Hương phô yên ba tam nguyệt thiên
Phần lô nhàn độc Thanh Tâm biên
Thị biên Bắc nhân Thánh Thán trước
Dịch âm ngã quốc Nguyễn Tiên Điền.
Cận lai danh sơn phong vũ thực
Hoa Đường bình bản vô lưu truyền
Thích Kim đài các thừa nhàn hạ
Bất nhẫn giai thoại không hàn yên
Ngẫu ư cổ lục đắc toàn giản
Truyền thân tả chiếu tương trùng thuyên
Trích ba ly tảo phân đề vịnh
Nhị thập hồi trung mặc thái nghiên.
.....
(toàn văn 140 câu thất ngôn độc vận)
Bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm:
Trên sông Hương tháng ba một buổi
Truyện Thanh Tâm ngồi ngẫm ngâm nga
Truyện này Thánh Thán soạn ra
Diễn thơ lục bát nước ta Tiên Điền
Trải lắm độ triền miên mưa gió
Tập Hoa Đường còn có nữa đâu
Gặp khi rỗi rãi trên lầu
Truyện hay nhẽ để về sau tro tàn
Xét tủ cũ may còn trọn tập
Họa đồ hình định rắp đem in
Gấm hoa đề vịnh từng thiên
Hai mươi hồi nét mực tiên sáng ngời. (1)
Nguyễn Văn Thắng nói “nghe” chứ không “đọc hoặc thấy”. Đó là ông chỉ nghe lời đồn. Sách kia mà còn tam sao thất bản huống chi lời đồn. Tự Đức nghe theo lặp lại ở khổ thơ đầu. Ở khổ thơ 2 ông nói : Do binh lửa mà nay một cuốn nổi danh như núi của Hoa Đường không còn lưu truyền. Nếu cuốn sách nhà Ngũ Vân Lâu ai cũng biết như lời Nguyễn Văn Thắng nói mà cả nước chuẩn bị tổng thuyết vua lại không chỉ thị tìm ra một cuốn?
Rồi khổ 3 ông lại nói may mà tìm ra trong tủ cũ một cuốn: “Gấm hoa đề vịnh từng thiên. Hai mươi hồi nét mực tiên sáng ngời”.
Đó là cuốn nào? Cuốn Kim Vân Kiều truyện của TT tài tử hay cuốn Kiều của Nguyễn Du mà gấm hoa đề vịnh thành 20 hồi!? Ta không có bằng chứng đó là cuốn nào. Truyện Kiều cũng có thể phân thành 20 hồi theo quan điểm người soạn. Dựa theo 20 hồi đó mà đề vịnh bằng thơ, diễn nghĩa bằng văn xuôi cũng xong. Hoặc là đã có sẵn một cuốn tương tự A953 của Thanh Tâm tài tử chia 20 hồi, lưu tại Quốc Sử Quán hoặc Hàn Lâm Viện, rồi 13 năm sau Lê Phước Bình chép và Trương Minh Ký giao cho Abel. Một câu tối nghĩa, nhưng có điều chắc: không phải là cuốn sách của Kim Thánh Thán vì ông đã nói: vô lưu truyền.
Ngày nay học giả Tây, Tàu đã loại Kim Thánh Thán ra khỏi Kim Vân Kiều truyện thì ai tin những gì từ Nguyễn văn Thắng và Tự Đức nói, kết luận rằng truyện Kim Vân Kiều là do Kim Thánh Thán viết hoặc bình là lạc hậu. Họ thiếu cập nhật thông tin và nhất là thiếu suy luận như đã trình bày phần trên.
Nhưng nhân nhắc tới câu thơ dịch: Hoạ đồ hình định rắp đem in. Kẻ Tay Ngang này sực liên tưởng đến sự lan tỏa của truyện Kiều. Sát bên kinh đô Huế là thương cảng Hội An. Tàu, Nhật, Tây, Hồng Kông không lẽ không có học giả đi du lịch? Hoặc ai đó đi du lịch mua tặng người nhà là học giả một cuốn thơ mà dân Việt thời đó mở miệng ra là nói? Nhưng làm sao để hiểu được ngôn ngữ thơ? Mua thêm một cuốn bình giảng: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử vậy!
Lại sẽ có Tín Đồ Thanh Tâm Tài Nhân phê phán: suy diễn vu vơ! Vâng, đó chỉ là suy diễn đừng tin. Nhưng chuyện này phải tin: ai đó đã đem truyện Kiều đến Hồng Kông thuộc địa Anh, năm nào không rõ. Một người Pháp sưu tầm mua năm 1894, xếp vào thư viện Anh tháng 6/ 1929. Theo nhiều nguồn mô tả: Đây là cuốn sách quý nhất về mặt chất liệu: giấy tốt dành cho nhà giàu hoặc vua ngự lãm, 147 bức tranh minh hoạ đẹp. Bìa vẻ rồng biểu tượng của Hoàng gia triều Nguyễn. Cho phép suy luận đây là cuốn Tự Đức nhắc tới trong bài tổng từ nói trên. Đồng thời Thư viện Anh cũng có một cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử ai sưu tầm không rõ mà sau này Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch năm 1971.
Chưa một “học thuật tay dọc” nào tự đặt một câu hỏi: Liệu song song với truyện Kiều có cả cuốn bình giảng Kim Vân Kiều của Thanh Tâm tài tử từ Đại Nam lan ra thế giới không? Như trường hợp đầu tiên được biết của Abel des Michel 1884. Riêng Tay Ngang này cho dù ai đi theo con đường đó, không giành được học vị tiến sĩ, sẽ để lại cái tâm tốt đẹp mà Tay Ngang này luôn kính trọng như fb trẻ Nguyễn Tấn Sơn nói trên.
Lê Nghị
1.
Nguyên Lac 21:37 28 tháng 10, 2019
"Riêng tôi thấy, dù Nguyễn Du có căn cứ vào bản Kim Vân Kiều hay căn cứ vào truyện của Mao Khôn để sáng tác Truyện Kiều đều không quan trọng. Quan trọng là với văn chương thiên tài,của cụ" - Vũ Nho
Tôi mạn phép kính lời với GS Vũ Nho:
1. Xin trích đoạn bài viết TAY NGANG chúng tôi: Trận Chiến Chưa Ngưng: Đoạn Trường Tân Thanh và KVK Truyện
” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ.
Biết bao lời ca ngợi Nguyễn Du, trên cơ sở khen ông nhào nặn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân bên China. Thực ra những lời khen đó là sáo rỗng, vì những người viết như thế vô trách nhiệm với văn hoá dân tộc đã đành; đồng thời, trong những lời ca ngợi đó đã kết tội Nguyễn Du “đạo văn”, tức là mượn cốt truyện người ta mà giấu. Mặt khác các vị cho rằng Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là tiểu thuyết tầm thường mà sao từ năm 1926, tên tác phẩm và tác giả đã đưa vào “văn học sử Trung quốc” và đến 1984 đến nay nó lại át cả Hồng Lâu Mộng China? Các vị không thấy có cái gì là lạ ở đây sao? Có bao giờ các vị đặt một câu hỏi liệu China có định chiếm đoạt văn hoá như đã, đang và sẽ chiếm cho được lãnh thổ người Việt không?”
Có vị bào chữa rằng ta mượn cốt truyện thì có gì phải tự ái, miễn là về mặt tư tưởng và nghệ thuật truyện Kiều đạt tới đỉnh cao là tự hào rồi! Nghĩa là trong thâm tâm những vị đó vẫn cho rằng Nguyễn Du đã đạo văn và đạo văn chẳng có gì xấu hổ. Còn tư tưởng thì hệt tiểu thuyết Kim Vân Kiều chứ khác chỗ nào mà gọi là cao hơn? Nghệ thuật cao hơn ư? Cao là cao đối với thơ Việt Nam.
Nói cho cùng là: Nguyễn Du đã đạo văn và diễn truyện Tàu bằng thơ rất hay đối với người Việt. Người Việt tự hào về điều đó.! Thử hỏi người nước ngoài mà nghe kết luận như vậy thì có cười vào mặt người Việt không? Có là nỗi tủi nhục cho quốc hồn và quốc sĩ của ta không?- TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN
Nguyên Lạc
.
2. dù Nguyễn Du có "căn cứ" vào bản Kim Vân Kiều - Vũ Nho
Thật ra thì tôi đã "thót bụng" nhưng nhìn kỹ lại hai chữ "căn cứ" tôi cũng hơi "an lòng" vì ít ra Giáo sư cũng không kết án cụ Nguyễn Du "đạo văn", "DỊCH" ra văn vần từ tiểu thuyết KVK Truyên của Thanh Tâm Tài Nhân China như các TAY DỌC tín đồ của "Thanh Tâm Tài Nhân chủ nghĩa".
Tuy nhiên cách nói như trên cũng cho ta thấy rõ "vòng Kim cô" vẫn còn bóp chặt, vẫn còn quá cứng, chưa tháo gở hoặc phá vỡ được. Than ôi, thời đại này rồi, thế kỷ 21 mà "Mặt trời vẫn còn quay quanh trái đất"
• ► 2015 (396)
• ► 2014 (375)
• ► 2013 (398)
• ► 2012 (67)
Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021
"Tình sử Phùng Mộng Long"
CHIẾC ÁO TRÂN CHÂU
(tình báo)
Lời người dẫn truyện.
Bạn có lẽ đã biết Nguyễn Du nhà mình đã xử dụng đến trên 100 điển từ và điển tích trong Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu thơ của mình. Các câu chuyện tình trong Kiệt tác đa phần đều lấy trong "Tình sử Phùng Mộng Long" cả.
Danh tác "Tình sử Phùng Mộng Long" có đến 24 loại hình truyện tình dàn trãi trong 804 câu chuyện ngắn có trong sách vở của Trung hoa còn lưu truyền lại. Ví dụ: như là câu chuyện nàng Chiêu Quân Cống Hồ đến Đá vàng, Chim Liền cánh, Cây liền Cành, Lam Kiều, Tiểu lân, Bố kinh vv.., Ngay cả câu Kiều “ Hoa đào năm trước còn cười gió đông “ chúng ta xưa nay cứ tưởng là Nguyễn Du đã lấy từ bài thơ ‘ Đề đô thành nam trang” của Thôi Hộ, thực ra bài thơ đó nằm trong câu chuyện tình mang tên “tình linh” Thôi Hộ; Tình linh là tình yêu đậm chất linh thiêng, mầu nhiệm. Chuyện kể về cuộc hôn nhân giữa tiến sĩ Thôi Hộ và cô bé 15 tuổi. Thường các câu chuyện tình trong "Tình sử Phùng Mộng Long" khá ngắn, có đan xem các bài thơ ngắn, thơ đa phần là dòng tứ tuyệt hay ngũ ngôn hay thất ngôn bát cú ..
Lần trước tôi đã giới thiệu trên trong của nhóm " TÌNH TỰ DÂN TỘC " chúng ta một câu chuyện nàng Vân Anh, tức câu chuyện chàng trai Bùi Hằng đi tìm vợ . Thế nhưng lần đó tôi chỉ giúp bạn ta hình dung kết cấu một câu chuyện trong sách "Tình sử Phùng Mộng Long" mà thôi . Kết cấu này được theo sát khi mà Nguyễn Tứ viết sách Kim Vân Kiều lục để thể hiện lại các bài thơ được ghi lại trong câu thơ của Nguyễn Du tỉ như các câu 100 hay 203 vv….
Lần này, bạn ta sẽ thấy được sự tài hoa của người Trung quốc trong việc “bịa truyện“như thiệt’ của họ.
Nguyễn Du của chúng ta có lẽ đọc "Tình sử Phùng Mộng Long" đến nhão thế nên khi thi tứ xuống, ông chợt nhớ và đưa vào câu thơ của mình một điển từ hay một điển tích một cách rất tự nhiên. Đọc riết thành quen, Nguyễn Du cũng là “Người Bịa chuyện tài hoa”; từ đó ta có những tình tiết bất ngờ, và cũng có khi khiến ta đau lòng trong Đoạn Trường Tân Thanh.
Hạo Như là con trai trưởng của Nguyễn Du, cậu ta tuổi trẻ, cũng tài hoa không kém. Đọc đoạn Cậu hư cấu đoạn Hoạn Thư buộc tội Thúc Sinh đã có vợ bé mà không cần phải dài dòng như cha mình trong Đoạn Trường Tân Thanh dài dòng, hay trong Kim Vân Kiều truyện(.DMT), ông anh này vụng về ăn cắp ý tưởng thế nhưng thể hiện rất dài dòng . Kim Vân Kiều truyện(.DMT) , Duy Minh Thị kể Thúc Sô đi Lâm Tri về mách cho Hoạn Thư biết chồng nàng đã có “ đệ nhị phòng “ và lập tức bị Hoạn Thư vả miệng, bẻ răng cửa, đau muốn chết (Kiều 1561-1562 ). Ngụy khắc Đản cũng đã thể hiện áp sát Đoạn Trường Tân Thanh trong một đoạn tuồng trong sách tuồng Kim Vân Kiều của ông.
Trong Kim Vân Kiều lục của Hạo Như, thì kể Thúc Sinh mới về thăm Hoạn Thư không bao ngày bỗng nhớ Kiều bèn đọc bốn câu thơ. Qua thơ này, Hoạn Thư “bắt ngay thóp “,
“Thúc Sinh từ Lâm Tri đi về, quan sơn cách trở, nước cũ quê người, trăm điều khổ sở. Một hôm rượu say, ngâm thơ rằng:
Viễn Phổ khứ lai đơn bạch hạc,
Hàn Sơn thướng há nhất cô chu.
Liêm tiền nguyệt lãng hoa sinh sắc,
Vân ngoại na tri nguyệt lãng vô?
Dịch nghĩa:
Viễn Phố đi về chỉ mình hạc trắng,
Hàn Sơn lên xuống chỉ một con thuyền.
Trước rèm trăng sáng hoa tươi sắc,
Còn trăng ngoài mây không biết có sáng không?
Dịch thơ:
Viễn Phố đi về mình hạc trắng,
Hàn Sơn lên xuống một con thuyền.
Ngoài mây nào biết trăng mờ tỏ,
Trăng sáng hoa tươi sắc trước rèm.
Hoạn Thư nghe thấy, nói:
- Thơ này chẳng phải ngẫu nhiên đâu!
Thúc Sinh giả bộ không hiểu, Hoạn Thư bảo:
- Ngắm trăng trong trăng, lại có một vầng trăng nữa; biết thân ngoài thân, lại có một thân khác. Như thế là ưong trăng đã thêm bóng,trong vườn đã thêm hoa vậy.
Thúc Sinh hỏi:
- Nói như thế là thế nào? Nàng đừng dùng những lời vô căn cứ mà bắt bóng bắt gió.
Hoạn Thư thầm biết chồng giấu giếm nên không đáp lại và cũng không nói tới chuyện đó nữa.”
Câu cuối cùng đã cho thấy rồi sóng gió sẽ tới tấp khiến “Thúc sinh” thành người có nick name là Thúc Thủ
&&&
CHIẾC ÁO TRÂN CHÂU
(Tình báo) .
Tình báo là một loại tình “ bép xép “. Người trong cuộc mang kể điều hay dở thuật lại cho ai đó .
Đất Sở (Hồ Nam) có người lái buôn, tuổi ngoài hai mươi, có người vợ tuyệt đẹp, vợ chồng yêu thương nhau lắm.
Nhưng rồi chàng xuống miền Quảng Đông buôn bán lâu năm không về.
Nhà chàng là một cái lầu ở gần chợ. Một hôm người vợ ngồi trên lầu, cách rèm trông ra, thấy một người con traigiỏi giang, giống mặt chồng lắm, mở rèm ra để nhìn.
Nhưng khi biết là nhầm, thẹn thùng quay vào tránh mặt.
Người con trai ấy quê ở Tân An, đến đây buôn bán đã hai năm. Bữa ấy thấy vị mỹ nhân trên lầu nhìn mình, chàng rất để tâm, bèn hỏi dò tên họ ở mụ bán ngọc trai tại
phía đông chợ ây, nhân đút lót nhiều tiền bạc, nhờ mụ kiếm hộ kế gì để mình trêu ghẹo được. Mụ nói:
- Già này đã biết, đó là một người đàn bà chính chuyên, không ai có thể phạm tới; vả cũng ít ai được tới gần để trông thấy mặt, tôi còn làm thế nào mà giúp cậu được!
Người Tân An cứ khẩn cầu mái. Mụ nói:
- Vậy thì đến quá trưa ngày mai, cậu nên mang nhiều vàng bạc đến cái hàng cầm ở đối cửa nhà mỹ nhân, rồi giao dịch với tôi một cách ì xèo. Làm cho tiếng động đến trên lầu, may ra nhờ thế mà tôi được mỹ nhân gọi lên hỏi về hàng họ thì hoạ còn có cơ hội. Nhưng cái kỳ cậu được gần gụi mỹ nhân thì tôi chưa ước hẹn đến bao giờ được.
Người kia vâng dạ lui về.
Mụ già nhân chọn ở trong túi hàng lấy những hạt trai rất lớn cùng những thứ trâm thoa quý báu, ngày hôm sau, đem đến cái cửa hàng trước lầu mỹ nhân, giả cách mua bán vđi người lái Tân An, soi những đồ châu ngọc ấy ở dưới ánh mặt trời, để xem tốt xấu. Người đi chợ cũng xúm vào xem ngó, tiếng cười tiếng nói om xòm. Quả nhiên mỹ
nhân ngó cổ ra cửa sổ để nhòm và sai con nhài xuống gọi mụ đem hàng lên cho mình xem. Mụ thu xếp hàng hoá vào hộp mà nói:
- Gớm! Cái nhà bác này mua bán cò kè quá. Nêu bán giá ấy thì hàng tôi bán hết đã từ lâu rồi.
Nói xong đem hàng lên lầu, cùng mỹ nhân thi lễ. Sau những câu hàn huyên chiếu lệ, mụ giở hàng ra nói chuyện mấy câu, rồi lại vội xếp lại mà nói:
- Già này có chút việc vội phải đi bây giờ, vậy xin mợ thư cho chốc nữa, già sẽ lại xin đem hàng đến nói chuyện.
Nhưng mụ đi khỏi thì mấy ngày không trở lại nữa. Một hôm đương mưa, mụ bỗng đến mà nói:
- Già này nhân có đứa con gái nó có chút việc, mấy ngày nay vì phải đi hộ hành nó, thành ra lỗi hẹn. Hôm nay trời mưa, già xin đem cả hàng đến để mợ xem.
Đoạn giở hết các thứ hàng ở trong hộp ra. Nàng xem thấy toàn những đồ quý báu, tâm tắc khen ngợi. Rồi nàng tính giá từng món một để mua. Mụ mừng mà rằng:
- Mợ tính giá như thế thật là đứng đắn, tôi không phải phàn nàn gì nữa. Không như cái người lái Tân An trả dìm giá quá, thật hoài cả hàng tốt cho hắn mặc cả.
Nàng lại có ý muôn trả nửa tiền, còn một nửa chịu lại để đợi khi chồng về trả nốt. Mụ nói:
- Được, chỗ láng giềng hàng xóm, mợ chịu tôi có ngại gì-
Nàng đã thích mua được giá hời, lại mừng được chịu lại một nửa, bèn mời mụ ở lại ăn cơm, uống rượu.
Mụ nói năng bẻo lẻo khôn khéo, nàng càng lấy làm ưa thích lắm. Ngủ chơi một đêm, sớm sau mụ lại ăn uống no say một bữa nữa mới về.
Từ đây, ngày nào mụ không đến thì nàng thấy buồn. Mụ đối với nàng ngày càng thân, có khi đem những giọng tình để khêu gợi. Nàng đương tuổi trẻ, không khỏi có lúc
tỏ lên trên nét mặt nỗi buồn gối lạnh chăn đơn. Nhân mời mụ năng đến ngủ với mình cho vui. Mụ cũng nói ở nhà ồn ào và thích nhà nàng tĩnh mịch, từ tối mai sẽ đem chăn gối đến ngủ.
Từ hôm sau, nàng kê giường cho mụ nằm và mụ không tối nào không đến. Hai giường gần nhau, đêm đêm chuyện trò thủ thỉ, không còn phải giữ ý điều gì.
Người lái Tân An thường xuyên đến hỏi mụ đã có thể gần nàng được chưa. Mụ vẫn nói là chưa thể. Đến độ mùa thu, chàng đến bảo mụ rằng:
- Tôi bắt đầu nhờ cậy là khi lá liễu đương xanh, nay liễu đã úa vàng và sắp có hạt rồi. Nếu cứ lần lữa mãi thế này, e rằng mây trắng sẽ sắp trùm cành mất .
Mụ nói:
- Vậy thì đêm nay theo tôi đi, nhưng phải để ý cho lắm. Thành bại là ỏ một chuyến này. Nêu không thật là uổng phí nửa năm trời theo đuổi.
Mụ bèn bầy kế dặn dò chàng. Trước nay, hôm nào cũng cứ tối mịt mụ mới đến nhà nàng. Tối hôm ấy, ngầm đem người Tân An cùng vào, bảo hãy tạm núp ở bên ngoài phòng ngủ. Mụ cùng nàng uống rượu trong phòng,nói cười vui vẻ. Mụ lại ép con nhài uống rượu; nó không quen uống nên say quá, đi nằm ngủ giúi một chỗ. Hai người đóng cửa uống rượu mãi, nên ai đã đều chếnh choáng say. Chợt có con thiêu thân bay vào ngọn đèn, mụ giả cách cầm quạt phẩy đuổi. Làm cho đèn tắt. Rồi mụ mở cửa để đi đốt đèn, nhưng lại cười nói:
- Quên không lấy đóm.
Kỳ thực trong lúc ấy, đã ngầm đưa người lái Tân An vào phòng.
Một lát mụ ở ngoài trở vào, nói đêm khuya bếp tắt, thôi cũng không cần thắp đèn nữa, bèn đóng cửa lại. Nàng lên giường nằm, nhưng tính sợ tối, thỉnh thoảng lại gọi mụ, mụ
nói:
- Mợ nhát quá! Vậy thì để tôi cùng nằm chung với mợ một giường cho vui.
Thừa lúc đó, mụ dẫn người Tân An vào màn, nhưng nàng vẫn tưởng lầm là mụ. Khi đã cùng nằm, nàng sờ thấy làn da trơn tru, hỏi thì người kia không nói, hắn trèo phắt lên mình nàng mà ôm ghì lấy. Nàng lúc ấy cũng đã tâm hồn rạo rực, chẳng còn chống cự gì nữa, để mặc cho ong cuồng kiếm nhị tìm hương...
Mây tan mưa tạnh, nàng mới gạn hỏi xem người ấy là ai. Mụ kia bèn tạ tội với nàng, và kể tấm lòng ái mộ của người khách Tân An ấy. Nàng trót bén rồi không thể dứt
được nữa, từ đó đôi bên quân quýt, yêu thương nhau hơn là vợ chồng.
Trải gần một năm. Người Tân An tặng biếu nàng vàng bạc có đến hàng nghìn lạng. Một hôm, hắn cùng với bạn buôn sắp phải trở về, buồn rầu ứa nước mắt bảo với nàng rằng:
- Sau khi xa cách, anh sẽ phải nhớ thương khổ lắm, xin cho một vật gì để được như là vẫn gần gặp nhau.
Nàng bèn mở hòm, lấy ra một tấm áo trân châu, thân cầm mặc vào mình người khách Tân An mà nói:
- Đi đường nóng bức, mặc áo này sẽ mát mẻ dễ chịu lắm, em xin tặng anh làm áo lót để lúc nào cũng như có em gần gụi bên mình.
Người Tân An trân trọng từ biệt; hẹn sang năm lại đến, sẽ cùng đưa nhau đi nơi khác.
Sau khi tương biệt, người kia quý mến tấm áo trân châu lắm, mặc luôn không lúc nào rời mình, nhiều khi thấy vật nhớ người lại ứa nước mắt. Năm ấy bận việc không đến
được. Năm sau chàng lại xuống buôn ở Quảng Đông, tình cờ quen với người Sở (chồng nàng), cùng nhau chơi rất thân. Một hôm trong lúc vui chuyện, mỗi người cùng kể những câu chuyện giàu trong đời mình, người Tân An kể chuyện đã từng ở quê hương người Sở đã gặp một người đàn bà như thế... người Sở nghe nói giật mình. Nhưng còn vờ không tin mà nói:
- Thế có gì để làm chứng không hay là nói bịa?
Người Tân An phô cái áo trân châu và ứa nước mắt nói:
- Đây, vật kỷ niệm của người yêu tôi tặng tôi. Nay mai bác về quê có tiện, làm ơn cho tôi gửi một bức thư thì hay lắm.
Người Sở chối từ, bảo đó là người họ ngoại nhà tôi, tôi không tiện giúp bác đưa thư như thế.
Người Tân An cũng hối là mình lỡ lời, cất áo và xin lỗi, người Sở bèn thu xếp hành trang về quê bảo với vợ rằng:
— Tôi vừa về qua đằng nhà mình, mẹ mình ốm nặng, đương mong được gặp mình đấy, bởi vậy tôi đã thuê sẳn cái kiệu ở ngoài cửa, mình về ngay đi.
Lại đưa cho vợ một bức thư mà rằng:
- Đây là những điều liệu lý việc tang, mình đem về trình với nhạc phụ. Tôi mới về chưa thể đi ngay được, rồi sẽ sang sau.
Người vợ đến nhà mẹ thì thấy mẹ vẫn như thường. Kinh ngạc mở thư ra xem, té ra trong đó là tờ giây ly hôn, đóng cửa khóc lóc không biết làm thế nào. Cha vợ đến nhà con rể để hỏi nguyên nhân. Con rể nói:
- Ông về bảo nó hễ lấy về được cái áo trân châu thì vợ chồng sẽ lại xum họp.
Cha về thuật lại, nàng mới rõ và hổ thẹn muốn chết đi được. Cha mẹ cũng không hiểu chỉ lấy lời an ủi vỗ về.
Sau đó một năm, có vị Tiến sĩ ở Ngô Ttung. Xuống làm quan Quảng Đông, nhưng qua đất sở kén một người vợ lẽ, người mối đem nàng mách với vị Tiến si. Tiến sĩ xuất năm mươi lạng vàng lấy nàng làm thiếp. Người nhà nàng đưa tin sang nhà chồng cũ. Người chồng cũ kiểm soát buồng nàng thấy cả thầy lớn nhỏ mười sáu cái hòm, trong đó đều là những gấm vóc châu báu, sai trả lại nàng tất cả. Ai nghe thấy cũng đều phải lấy làm lạ.
Chừng một năm nữa, người Sở (chồng cũ) lại xuống buôn bán ở Quảng Đông. Chẳng hiểu vì sự tính toán tiền, hàng với một người chủ hiệu ra sao mà đến cãi nhau rồi đánh nhau người chủ hiệu bị người Sở đánh một cái vào chỗ phạm chết ngay. Hai người con chủ hiệu đem việc ấy đi kiện mà viên quan sử kiện lại chính là vị Tiến sĩ.
Tiến sĩ đêm khuya thắp đèn xem các án từ, người thiếp đứng hầu bên cạnh. Nàng liếc trông thấy tên họ của chồng cũ, khóc mà nói rằng:
- Đó là người cậu của thiếp đấy. Nay không may can vào việc ấy, dám xin đại nhân cải tử hoàn sinh cho.
Tiến sĩ nói:
- Nhưng mà án sắp thành mất rồi.
Nàng quỳ xuốhg kêu van khóc lóc. Tiến sĩ lại nói:
- Thôi nàng cứ đứng dậy, để ta sẽ liệu.
Sáng sớm hôm sau, nàng lại khóc mà nói:
- Nếu việc ây đại nhân không cứu gỡ cho thì thiếp cũng khó lòng sống được.
Tiến- sĩ bèn bảo với hai con của người thiệt mạng rằng:
- Thương tích của cha các anh chưa được rõ rệt, giờ ta muốn cho mổ thi thể để lấy xương khám lại.
Hai người con vôn nhà giầu có, nghĩ không nỡ để thi thể cha mình lại phải đem phơi giải, dập đầu nói việc cha mình đánh chết đã là rõ ràng lắm xin miễn cho sự lấy
xương khám lại.
Quan nói:
- Nhưng thương tích không rõ thì lây gì mà định tội được?
Hai người con vẫn cứ van xin; quan bèn dỗ:
- Cha các anh, tuổi tác, chết cũng đã đáng đời rồi. Nay ta có một cách này, cũng đủ để các anh được hả, chẳng hay các anh có chịu nghe không?
- Xin quan lớn cứ dậy. Chúng con xin nghe.
- Nay ta bắt tên thủ phạm kia phải mặc đồ sô gai xổ gấu và nhận cha các anh làm cha, trong khi táng lễ, phải chống gậy khóc lóc cũng như các anh, như thế thì linh hồn
của cha các anh cũng được thoả lắm.
Hai người con kia đều dập đầu vâng mệnh. Quan lại hỏi đến người Sở. Người ấy mừng được thoát chết cũng xin tuân theo. Việc xong người thiếp xin được giáp mặt
cậu. Đôi bên gặp nhau, cùng ôm nhau khóc lóc thảm thiết. Quan ngờ gạn hỏi ngọn ngành, mới biết rõ đó là đôi vợ chồng cũ; vì lòng bất nhẫn, bèn cho lại được về đoàn tụ và cho mang về cả mười sáu cái hòm ngày trước, sai hộ tống ra tận ngoài cõi. Người Sở bây giờ đã lấy vợ kế, vợ cũ về lại sẵn lòng ở vào địa vị thứ phòng.
*
Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020
Kim Vân Kiều lục
Lời người dẫn truyện.
Nhiều khúc ngâm trong Kim Vân Kiều lục được Ngụy khắc Đản xử dung khi ông chuyển thể từ tiểu thuyết sang tuồng với ba hồi đã xuất hiện trong đời sống kịch nghệ Nam bộ trong giai đoạn mất nước .
Kim Vân Kiều lục đã làm tròn vai trò của nó
Tác giả đã là làm giảm sự quá tải đau thương đè nặng trên cuộc đời Kiều Nàng đã quá đau thương. Đau thương chưa đủ sao , nào là cuộc đời ô nhục trong kỹ viện. Tiếp cộng thêm vài năm làm tôi tớ trong nhà họ Hoạn. Nay lại cho nàng “cái đêm ô nhục do bị Hồ Tôn Hiến sau khi giết chồng nàng vào buổi sáng thì tối làm tiệc liên hoan , nó lại đày dọa thân xác người phụ nữ trẻ. Nguyễn Du chắc cũng “cảm thấy bất nhẫn”.
Nếu mình( Nguyễn Du) không viết có đoạn này thì không trọn chủ đề “nỗi đau đứt ruột của người trưởng nữ với khúc đoạn trường mới “, đó là tên của Kiệt tác ,Đoạn Trường Tân Thanh. Mà viết thì phải đi cho trọn câu chuyện Vương Thúy Kiều đã được mô tả cái khung sườn chặt chẻ của Phùng Mộng Long đã thể hiện trong bộ Tình sử của ông. Nếu giữ thật sát thì quá tầm thường. Nếu đẩy lên cao nhất có thể thì “khúc đoạn trường” thì lòng ta ( Nguyễn Du ) cugnx bất nhẫn lắm .
Chính vì thế nên đành phải chọn khuyết danh. Ghi ta hay ghi tên con ta thì việc xưa nay chưa có tiền lệ,thế nhưng Kim Vân Kiều lục cũng đã thể hiện hầu như tất cả những gì mà ta đã trình bày trong Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh trừ đoạn Thúy Kiều trong đoạn Từ Hải ta (Nguyễn Du) phải đành viết lại.
“dưới chiêu bài tác giả dấu mặt” ẩn danh nó đã giúp cha con ta khi viết Kim Vân Kiều lục đã có thể mạnh tay ,tự do hơn “trong sự cho phép” mạnh dạn lột bỏ đoạn Kiều đánh đàn hầu Hồ Tôn Hiến ngay trong đêm cùng ngày với người chồng mà mình yêu thương bị chính y giết là phù hợp với những gì mà cha con ta đã cùng ngồi xem trình diexn vở tuồng Thu Hổ Khâu.
Xưa nay giết chồng đoạt vợ, thỏa mãn thú tính vốn là “lạc thú của một viên chức phục vụ trong triều đình Tàu“. Đó là lời cảnh giác cho sắc dân Lạc Việt phải nhớ mà tự khắc lên vai mình,lên cánh tay mình hai chữ Thát đát như năm xưa thời Đức Thánh Trần trước kẻ thù phương Bắc. Sự căm thù Tàu dằng dặc trong hầu hết 132 bài thơ chữ hán trong tập Bắc Hành thi tập trong 14 tháng đi sứ trên đất Tàu .
Buộc nàng Kiều đánh đàn hầu là một sáng tác của riêng Nguyễn Du cho dù Nguyễn Du thuộc nhão câu chuyện Vương Thúy Kiều truyện trong "Tình sử Phùng Mộng Long" hay khi ông ngồi bên con cùng xem vở hý kịch Thu Hổ Khâu. Các câu truyện Tàu hay kịch Tàu đều không có đoạn miêu tả sát sườn đau thương như thế . Thúy Kiều than khóc bởi Từ Hải là người duy nhất đã cho nàng một chút vinh quang, cho nàng chút hương vị “phu nhân đầy quyền uy” mới đó.
Trong Kim Vân Kiều lục, những nhân vật đã được Kiều chấm đều nói với Kiều nữ lời lịch sự nhất, trãi lòng nhất và Kiều cũng đáp ứng một cách cũng tương thích, nàng vốn là con nhà đã được mẹ cha cho ăn học, hoàn toàn nàng không là một con đĩ như trong nguyên tác có liên quan về nhân vật Vương Thúy Kiều ta cùng hồi tưởng đoạn văn mô tả Kim Trọng lúc từ giả Kiều về chịu tang chú , Kim Trọng lo sợ mất Kiều, Kiều đã nói
- Thư nhà đưa đến báo tin, việc nhà trăm nỗi, tâm tình xốn xang đau đớn. Đường đi vạn dặm, xa xôi đến ba đông. Một ngày không được thấy nàng, lâu tựa ba đông, huống hồ ba đông không được thấy nàng thì sẽ như thế nào đây?
Nếu nàng được như lời thề ước thì cũng là hợp với ý nưyện bình sinh.
Kiều nghe nói, nước mắt ứa ra không dứt, bảo chàng Kim rằng:
- Người chết còn có thể sống lại thì thiếp sẽ mổ bụng cho chàng xem. Thiếp đã cắt tóc thề bồi với chàng thi dù tóc đã hoa râm, lòng son của thiếp cũng không thay đổi. Chỉ nghĩ đường chim khấp khểnh, suối khe đứt nối, gió quất làm mặt người tiều tụy, nước chảy làm vó ngựa vội vàng. Chàng là văn nhân, làm thế nào đương nổi những nỗi ây? Xin chàng đừng bận tâm đến thiếp.
Rồi làm thơ tiễn biệt rằng:
Thiên lý giang sơn thiên lý niệm,
Nhất phiên phong vũ nhất phiên sầu.
Dịch nghĩa và dịch thơ:
Nghìn dặm núi sông nghìn dặm nhớ,
Một phen mưa gió một phen sầu.
Trọng cũng đáp lại bằng thơ từ biệt:
Nhất tự trường đình tương biệt xứ,
Đoản trường đình thị đoạn trường đình.
Dịch nghĩa:
Một khi từ biệt nhau ở nơi trường đình,
Thì đoản đình hay trường đình đều là đình đứt ruột.
Dịch thơ: '
Từ lúc trường đình lời giã biệt,
Đoản, trường đều đứt ruột như nhau.
Bấy giờ gà đã gáy trưa, chàng Kim xin về quê. Kiều khóc
như mưa, than thở:
Tu du hề đổi diện,
Khoảnh khắc hề phân trình.
Tương cố bất tương kiến,
Hà nhật tà u tình?
Dịch thơ:
Chốc lát chừ đối diện,
Khoảnh khắc chừ chia tay.
Ngoảnh lại nhìn đâu thấy,
Ngày nào tò tình đây?
Trọng gạt lệ quất ngựa ra đi. Trải bao gió sương, non sông vạn dặm, chừng một thảng về đến nhà.
Từ khi chàng Kim từ biệt ra đi, Kiều ban ngày gắng gượng ăn uống, đêm ngồi thừ trưởc chén' rượu. Nước trong trong chảy đấy, khôn rửa tấc lòng đau; cỏ xanh xanh thơm đấy,khôn quên tấc lòng sầu. Trong lúc mộng mị, thường thấy Kim lang ngay trước mặt.
Còn lắm điều lạ lùng , còn lắm bài thơ hay và lắm sự tinh tế giúp người đọc hiểu rõ tình huống còn mơ hồ trong Đoạn Trường Tân Thanh .Tỉ như Hoạn Thư biết Thúc Sinh có lẹo tẹo do vì Thúc Sinh trong lúc về thăm Hoạn Thư đã nhớ Kiều và chàng ta ngâm nga một bài thơ tứ tuyệt có vết thương nhơ Kiều.Hay đoạn hẹn hò, kiều đề thơ là bức tranh của ai vẽ.Rõ ràng sự chỉnh sửa của Kim Vân Kiều lục khiến cho Đoạn Trường Tân Thanh liền lạc hơn. Và ta cugnx nên nhớ rằng Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh vẫn còn các hạt sạn tuy rất nhỏ ,thế nhưng cũng là hạt cát trong chén cơm. Nguyễn Du đã theo sát Nguyễn Tứ ,ông xem Nguyễn Tứ là viên ngọc của dòng họ và là niềm tự hào của chính ông , Than ôi, đứa con hay chữ này đã chết sau khi hai danh tác Trường thi bi kịch Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều lục vừa hoàn thành, cần ông đọc lại và chỉnh sửa ,thế nhưng Nguyễn Tứ mất trước mặt ông .Ông đã buông tất cả .Khong nhắc đến thi ca,văn chương từ giai đoạn 1816- 1820 .Ông buông và không chịu uống thuốc khi vướng bệnh dịch tả . bệnh Dịch tả là bệnh cần người bệnh có thể trạng tốt ,cần ăn uống để cơ thể tự đề kháng , vậy mà một quan nhị phẩm triều đình lại chết một cách dễ dàng như thế đó là điều chỉ ra rằng ,một khúc đoạn trường, “nỗi tuyệt vọng của một người Cha! “
Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2008
nguon
http://my.opera.com/KheKinhKha/blog/2008/04/18/kh-o-c-u-laiquangnam
Khảo Cứu: LaiQuangNam
Friday, 18. April 2008, 03:51:37
Laiquangnam xin được giới thiệu Cao Bá Quát:Qua bài thơĐộc dạ cảm hoài Phần IXuất xứ I_)_Bài này Cao Bá Quát sáng tác trong bối cảnh sau trận đòn roi của Triều đình Nguyễn , rồi Ông bị giam vào ngục thất ,chỉ vì tội thương tiếc các tài năng lỡ làm bài thi phạn húy . Tại sao Ông lại làm “điều dại dôt “ như vậy ?[ “điều dại dôt” hẳn là lời đầu môi của kẻ chăn dắt dân ] .Ông làm vì và cũng chỉ vì giận một triều đại đã phung phí nguyên khí , phung phí tiềm lực quốc gia trước kẻ thù đang muốn chiếm đất nước nước này .Lịch sử đã ghi nhận đúng như thế . Cụ Cao đã bị đánh roi , nguồn gốc và cách phạt roi thời ấy có lịch sử như sau ;
_Sau khi Gia Long diệt được Quang Toản 1802 , Triều Nguyễn Gia Miêu nhất nhất học theo cách trị nước của Tàu ,của Thanh Triều . Thanh Triều dùng luật pháp khắc khe tại đất Tàu , bởi Họ muốn khống chế sức đề kháng của dân tộc Hán , không cho Hán tộc nổi dậy chống Thanh triều ,,Chúng ta còn hiểu được ý đồ của nhà Thanh , nhưng Gia Long dùng luật này trị chính dân tộc mình, nghĩa là người trong nước là ngoại tộc với triều đại của Ông , đúng là “ “Bảo Đại là cháu Gia long , là con Khải Định , là giòng Việt gian ! “. Con nít Quảng Nam đều thuộc câu này trong thời chống PHÁP .
_Cách đánh roi của triều Nguyễn là , (a) căng tù nhân nằm dài xuống đất , buộc hai bàn tay lại đưa qua khỏi đầu ,rồi đóng vào một cọc xuống đất .,(b) buộc hai chân vào một cọc tre khác , căng thẳng người ra , (c) người tra khảo chỉ việc đánh tù nhân bằng hèo , tù nhân chỉ dẫy dụa la hét vì đau đơn nhưng không vùng vẫy được .Những vết thương do tra khảo như thế sẽ mưng mủ , và đã có nhiều tù nhân chết . May mà tài năng Cao Bá Quát không chết .
Ý thơ” II)_Nước triều nổi làm nhà giam thêm ẩm thấp nhầy nhụa , lại thêm cơn gió lạnh cuối đêm tràn về càng làm cho người tù thêm thao thức.Suốt đêm nay Ông không sao ngủ được .Vết thương vì đòn roi làm nhứt nhối thân xác nhưng không sao bằng nỗi đau trong vai trò một kẻ sĩ trong đêm này .
Ông, con nhà nòi ,vốn mang mình một tâm thức kẻ sĩ càng làm Ông buồn lo khi nghĩ về vận nước .
”_Bất lực và tội nghiệp chio thân ta . ta đang ở trong tù !.”
Bản dịch :
Độc Dạ Cảm Hoài
( tạm dịch nghĩa :
Một mình cảm xúc trong đêm )
Tàn đêm triều lại dâng tràn
Lạnh se… tiển biệt thu vàng ra đi
Tháng năm , _ hai mắt bệnh chi ( !&?)
Giữa trời giữa đất “_ một thi nhân tù !,”
Gối lưng nhìn kiếm ưu tư
Gọi đèn.. soi rọi… áo cừu rách bươm
Bực mình tâm lực còn vươn!
Làm sao mà nén !…” bi thương thân tù.”
Laiquangnam dịch
Phần II
Mời bạn đọc lại
Nguyên Tác
獨 夜 感 懷
新 漲 生 殘 夜
初 寒 送 渺 秋
歲 時 雙 病 眼
天 地 一 詩 囚
倚 枕 看 長 劍
呼 燈 檢 敝 裘
彊 憐 心 力 在
羈 臥 不 禁 愁
高伯适
Độc Dạ Cảm Hoài
Tân trướng sinh tàn dạ
Sơ hàn tống miểu thu
Tuế thời song bệnh nhãn
Thiên địa nhất thi tù
Ỷ chẩm khan trường kiếm
Hô đăng kiểm tệ cừu
Cưỡng liên tâm lực tại
Cơ ngọa bất câm sầu
Cao Bá Quát
Bản dịch
Độc Dạ Cảm Hoài
Tàn đêm triều lại dâng tràn
Lạnh se… tiển biệt thu vàng ra đi
Tháng năm đôi mắt bệnh chi !
Đất trời đang có một thi nhân tù.
Gối lưng nhìn kiếm ưu tư ,
Gọi đèn soi rọi áo cừu rách bươm .
Bực mình tâm lực còn vươn!
Làm sao mà nén… “bi thương nằm tù. (?&!)
”Laiquangnam .
Độc Dạ Cảm Hoài.,
Cảm xúc trong đêm một mình
Chú vài từ hán việt xa lạ với Việt Ngữ
Trướng , nước lên //Miểu , lâm bịnh ,làm khó // Ỷ , tựa //Chẩm, gối //Hô, gọi //Tệ , rách ,nát //Cừu, chiếc áo cừu (áo dành cho kẻ sĩ , áo của quan lai )Cưỡng, miễn cưỡng ,bực bội //Cơ ,kiềm chế , giam cầm //“bất câm sầu”, sầu chẳng thể nín được Phần IIILời cuối có khi nào bạn tự hỏi _Cao bá Quát sửa bài thi cho Thí sinh , Ông cũng chẳng “ăn cái giải gì “, trừ việc tiếc một tài năng của tổ quốc mà triều Nguyễn đã phung phí .
Các vua Nguyễn là nguyên nhân làm nước Nam vong quốc và tàn mạt .Những di chứng còn tồn tại maĩ đến ngày hôm nay .
Bạn nghĩ gì về chế độ đó ! Ân nhân hay tội đồ ?
“Bạn có biêt rằng vào các thế kỷ trước bên Tàu ,
những người mang có họ TẦN, đều xấu hổ vì đã lỡ mang họ ấy .
Và cái tên “ Cối “ thì biến hẳn trên đất nước Tàu ,
đây là những gì ta cần học từ đất nước phương Bắc ấy .
Laiquangnam
http://my.opera.com/KheKinhKha/blog/2008/04/18/kh-o-c-u-laiquangnam
Khảo Cứu: LaiQuangNam
Friday, 18. April 2008, 03:51:37
Laiquangnam xin được giới thiệu Cao Bá Quát:Qua bài thơĐộc dạ cảm hoài Phần IXuất xứ I_)_Bài này Cao Bá Quát sáng tác trong bối cảnh sau trận đòn roi của Triều đình Nguyễn , rồi Ông bị giam vào ngục thất ,chỉ vì tội thương tiếc các tài năng lỡ làm bài thi phạn húy . Tại sao Ông lại làm “điều dại dôt “ như vậy ?[ “điều dại dôt” hẳn là lời đầu môi của kẻ chăn dắt dân ] .Ông làm vì và cũng chỉ vì giận một triều đại đã phung phí nguyên khí , phung phí tiềm lực quốc gia trước kẻ thù đang muốn chiếm đất nước nước này .Lịch sử đã ghi nhận đúng như thế . Cụ Cao đã bị đánh roi , nguồn gốc và cách phạt roi thời ấy có lịch sử như sau ;
_Sau khi Gia Long diệt được Quang Toản 1802 , Triều Nguyễn Gia Miêu nhất nhất học theo cách trị nước của Tàu ,của Thanh Triều . Thanh Triều dùng luật pháp khắc khe tại đất Tàu , bởi Họ muốn khống chế sức đề kháng của dân tộc Hán , không cho Hán tộc nổi dậy chống Thanh triều ,,Chúng ta còn hiểu được ý đồ của nhà Thanh , nhưng Gia Long dùng luật này trị chính dân tộc mình, nghĩa là người trong nước là ngoại tộc với triều đại của Ông , đúng là “ “Bảo Đại là cháu Gia long , là con Khải Định , là giòng Việt gian ! “. Con nít Quảng Nam đều thuộc câu này trong thời chống PHÁP .
_Cách đánh roi của triều Nguyễn là , (a) căng tù nhân nằm dài xuống đất , buộc hai bàn tay lại đưa qua khỏi đầu ,rồi đóng vào một cọc xuống đất .,(b) buộc hai chân vào một cọc tre khác , căng thẳng người ra , (c) người tra khảo chỉ việc đánh tù nhân bằng hèo , tù nhân chỉ dẫy dụa la hét vì đau đơn nhưng không vùng vẫy được .Những vết thương do tra khảo như thế sẽ mưng mủ , và đã có nhiều tù nhân chết . May mà tài năng Cao Bá Quát không chết .
Ý thơ” II)_Nước triều nổi làm nhà giam thêm ẩm thấp nhầy nhụa , lại thêm cơn gió lạnh cuối đêm tràn về càng làm cho người tù thêm thao thức.Suốt đêm nay Ông không sao ngủ được .Vết thương vì đòn roi làm nhứt nhối thân xác nhưng không sao bằng nỗi đau trong vai trò một kẻ sĩ trong đêm này .
Ông, con nhà nòi ,vốn mang mình một tâm thức kẻ sĩ càng làm Ông buồn lo khi nghĩ về vận nước .
”_Bất lực và tội nghiệp chio thân ta . ta đang ở trong tù !.”
Bản dịch :
Độc Dạ Cảm Hoài
( tạm dịch nghĩa :
Một mình cảm xúc trong đêm )
Tàn đêm triều lại dâng tràn
Lạnh se… tiển biệt thu vàng ra đi
Tháng năm , _ hai mắt bệnh chi ( !&?)
Giữa trời giữa đất “_ một thi nhân tù !,”
Gối lưng nhìn kiếm ưu tư
Gọi đèn.. soi rọi… áo cừu rách bươm
Bực mình tâm lực còn vươn!
Làm sao mà nén !…” bi thương thân tù.”
Laiquangnam dịch
Phần II
Mời bạn đọc lại
Nguyên Tác
獨 夜 感 懷
新 漲 生 殘 夜
初 寒 送 渺 秋
歲 時 雙 病 眼
天 地 一 詩 囚
倚 枕 看 長 劍
呼 燈 檢 敝 裘
彊 憐 心 力 在
羈 臥 不 禁 愁
高伯适
Độc Dạ Cảm Hoài
Tân trướng sinh tàn dạ
Sơ hàn tống miểu thu
Tuế thời song bệnh nhãn
Thiên địa nhất thi tù
Ỷ chẩm khan trường kiếm
Hô đăng kiểm tệ cừu
Cưỡng liên tâm lực tại
Cơ ngọa bất câm sầu
Cao Bá Quát
Bản dịch
Độc Dạ Cảm Hoài
Tàn đêm triều lại dâng tràn
Lạnh se… tiển biệt thu vàng ra đi
Tháng năm đôi mắt bệnh chi !
Đất trời đang có một thi nhân tù.
Gối lưng nhìn kiếm ưu tư ,
Gọi đèn soi rọi áo cừu rách bươm .
Bực mình tâm lực còn vươn!
Làm sao mà nén… “bi thương nằm tù. (?&!)
”Laiquangnam .
Độc Dạ Cảm Hoài.,
Cảm xúc trong đêm một mình
Chú vài từ hán việt xa lạ với Việt Ngữ
Trướng , nước lên //Miểu , lâm bịnh ,làm khó // Ỷ , tựa //Chẩm, gối //Hô, gọi //Tệ , rách ,nát //Cừu, chiếc áo cừu (áo dành cho kẻ sĩ , áo của quan lai )Cưỡng, miễn cưỡng ,bực bội //Cơ ,kiềm chế , giam cầm //“bất câm sầu”, sầu chẳng thể nín được Phần IIILời cuối có khi nào bạn tự hỏi _Cao bá Quát sửa bài thi cho Thí sinh , Ông cũng chẳng “ăn cái giải gì “, trừ việc tiếc một tài năng của tổ quốc mà triều Nguyễn đã phung phí .
Các vua Nguyễn là nguyên nhân làm nước Nam vong quốc và tàn mạt .Những di chứng còn tồn tại maĩ đến ngày hôm nay .
Bạn nghĩ gì về chế độ đó ! Ân nhân hay tội đồ ?
“Bạn có biêt rằng vào các thế kỷ trước bên Tàu ,
những người mang có họ TẦN, đều xấu hổ vì đã lỡ mang họ ấy .
Và cái tên “ Cối “ thì biến hẳn trên đất nước Tàu ,
đây là những gì ta cần học từ đất nước phương Bắc ấy .
Laiquangnam
Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2008
MÌ QUẢNG , qua các báo
Mì Quảng
Mì quảng trên báo Saifgofn tiếp thi
Mì Quảng là món ăn đặc hữu quá phổ thông, quen thuộc không những với người địa phương mà còn cả khách vãng lai đã có lần ghé qua Đà Nẵng.
Thành phần cơ bản của mì Quảng gồm: mì, thịt (heo, bò, gà, vịt...), tôm, cá (lóc, thu, nhám...), trứng (gà, vịt, cút), đậu phộng rang, bánh tráng (đa), ớt, chanh, hành, tỏi... và đặc biệt không thể thiếu các loại rau ăn kèm (xà lách, cải con, giá sống, bắp hoặc thân chuối sứ...). Tất cả thành phần này thường có đầy đủ trong một quán mì Quảng "bậc trung", và tùy theo sở thích khách ăn sẽ được phục vụ nhiều hay ít các món trong cùng một tô mì. Hai điểm độc đáo của mì Quảng là chỉ dùng nước mắm nguyên không pha thêm chanh, tỏi, đường... và ớt xanh nguyên trái không
thái lát mỏng.
Phân tích về dinh dưỡng học cho thấy tô mì Quảng đúng là cả một khẩu phần ăn hợp lý được thu nhỏ lại. Trong tô mì đầy đủ bốn thành tố của bữa ăn tốt: chất bột (mì, bánh tráng), chất đạm (thịt, cá) chất béo (dầu, mỡ, trứng) chất khoáng và vitamin (các loại rau ăn kèm). Về tính bắt mắt và khẩu vị, theo tôi, mì Quảng cũng thuộc loại "xuất sắc". Theo cách nói của giáo sư Trần Văn Khê thì chúng ta sẽ thưởng thức món mì Quảng bằng cả ngũ quan. Mắt nhìn nhiều màu sắc: trắng của mì, đỏ của ớt, cà chua, xanh tươi của rau. Mũi ngửi được hương thơm của thịt, đậu phộng rang... Lưỡi nếm lắm mùi vị: ngọt, bùi, béo, cay, chua.... Miệng nhai thấy mềm, cứng, dai, dẻo. Tai nghe nhiều âm vui: tiếng bẻ bánh tráng gãy giòn tan, tiếng vỡ sào sạo của đậu phộng.
Ưu điểm lớn nhất của mì Quảng là tính phổ biến và dân dã của nó; hầu như tất cả mọi nơi, các bà nội trợ vùng Quảng Nam, Đà Nẵng đều biết và đã từng nấu được món mì Quảng cho bữa ăn gia đình. Thuận lợi thứ hai của mì Quảng là tính linh hoạt, tùy thực phẩm kèm theo có được có thể chế biến nhiều loại mì khác nhau: mì Quảng gà, mì Quảng bò, mì Quảng sứa... và cả mì Quảng chay dùng cho ngày rằm, đầu tháng.
Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành. Xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng.Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhân bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhân cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp.Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi, xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt.Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở.Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô.Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất phải đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, phường 12, quận Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu.(Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Đã thèm tô mì Túy Loan
23/06/2007
Ở đôi bờ sông Tuý, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, dọc QL14B cũ và QL14B mới, rồi cả những đường thôn ngõ xóm, quán ăn nào cũng treo bảng bán mì Quảng. Mì Quảng quán nào cũng ngon, nhưng hơn hết là mì Bà Tỉnh ở gần cầu Giăng - "linh hồn" của mì Quảng Tuý Loan.
Mì Bà Tỉnh có sức hút không chỉ vì quán có truyền thống gần 100 năm, với bí quyết riêng về các công đoạn làm bánh tráng, tráng mì... mà còn ở chất lượng và giá hợp túi tiền với đủ loại khách hàng. Tô mì ngon nhờ nhưn chế biến từ thịt mông con bò vừa tơ. Nước lèo cũng hầm từ xương bò này và nêm đủ loại gia vị vừa ngọt vừa thơm. Đậu phộng (lạc) chọn mẻ không để lâu trên một mùa, rang lửa than vừa đủ độ để giữ chất bùi bùi, mằn mặn của đậu. Rau sống dùng kèm phải chín loại, từ cây cải non đương nụ, cọng giá trắng tinh, rau muống non xanh chẻ nhỏ, lá hành chọn nơi gần củ có màu đậm, xà lách chọn lá xanh lợt… cho đến ngò ta xắt dài để ngọn, tất cả trộn đều với bắp chuối chát xắt mỏng như tơ - thấy đã thèm.
Sợi mì mỏng làm từ gạo xiệc chính gốc Đại Hiệp - Đại Lộc - Quảng Nam, ăn vừa có độ dai, vừa bùi mới ngon. Tô mì Bà Tỉnh chỉ 7.000đ cùng cái bánh tráng đặc sản vùng quê bên bờ sông Tuý. Cũng từ lò bánh tráng nhà bà Tỉnh mà ra, thơm lựng, giòn tan. Khách ở xa, sau khi ăn mì thường mua vài chục bánh tráng mang về làm quà.
Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh. Ngày lễ tết, người dân dưới phố, bà con khắp nơi ngang qua Tuý Loan, đi viếng mộ ở nghĩa trang Gò Cà; thăm viếng người thân, bạn bè… vẫn để bụng ăn tô mì Quảng. Theo anh Nguyễn Đại Minh - truyền nhân đời thứ ba, hiện là chủ quán mì Bà Tỉnh cho biết, bình quân mỗi ngày bán 150 tô, chủ nhật lên đến 600 tô, còn những ngày tết thì trên cả ngàn là thường. "Nhà mình một năm chỉ nghỉ bán ngày ba mươi để rước ông bà, còn lại bán suốt".
P03
Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành, xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng. Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhưn bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhưn cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp. Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi; xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt. Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở. Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô. Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, P.12, Q. Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu. Theo SGTT
Mì quảng trên báo Saifgofn tiếp thi
Mì Quảng là món ăn đặc hữu quá phổ thông, quen thuộc không những với người địa phương mà còn cả khách vãng lai đã có lần ghé qua Đà Nẵng.
Thành phần cơ bản của mì Quảng gồm: mì, thịt (heo, bò, gà, vịt...), tôm, cá (lóc, thu, nhám...), trứng (gà, vịt, cút), đậu phộng rang, bánh tráng (đa), ớt, chanh, hành, tỏi... và đặc biệt không thể thiếu các loại rau ăn kèm (xà lách, cải con, giá sống, bắp hoặc thân chuối sứ...). Tất cả thành phần này thường có đầy đủ trong một quán mì Quảng "bậc trung", và tùy theo sở thích khách ăn sẽ được phục vụ nhiều hay ít các món trong cùng một tô mì. Hai điểm độc đáo của mì Quảng là chỉ dùng nước mắm nguyên không pha thêm chanh, tỏi, đường... và ớt xanh nguyên trái không
thái lát mỏng.
Phân tích về dinh dưỡng học cho thấy tô mì Quảng đúng là cả một khẩu phần ăn hợp lý được thu nhỏ lại. Trong tô mì đầy đủ bốn thành tố của bữa ăn tốt: chất bột (mì, bánh tráng), chất đạm (thịt, cá) chất béo (dầu, mỡ, trứng) chất khoáng và vitamin (các loại rau ăn kèm). Về tính bắt mắt và khẩu vị, theo tôi, mì Quảng cũng thuộc loại "xuất sắc". Theo cách nói của giáo sư Trần Văn Khê thì chúng ta sẽ thưởng thức món mì Quảng bằng cả ngũ quan. Mắt nhìn nhiều màu sắc: trắng của mì, đỏ của ớt, cà chua, xanh tươi của rau. Mũi ngửi được hương thơm của thịt, đậu phộng rang... Lưỡi nếm lắm mùi vị: ngọt, bùi, béo, cay, chua.... Miệng nhai thấy mềm, cứng, dai, dẻo. Tai nghe nhiều âm vui: tiếng bẻ bánh tráng gãy giòn tan, tiếng vỡ sào sạo của đậu phộng.
Ưu điểm lớn nhất của mì Quảng là tính phổ biến và dân dã của nó; hầu như tất cả mọi nơi, các bà nội trợ vùng Quảng Nam, Đà Nẵng đều biết và đã từng nấu được món mì Quảng cho bữa ăn gia đình. Thuận lợi thứ hai của mì Quảng là tính linh hoạt, tùy thực phẩm kèm theo có được có thể chế biến nhiều loại mì khác nhau: mì Quảng gà, mì Quảng bò, mì Quảng sứa... và cả mì Quảng chay dùng cho ngày rằm, đầu tháng.
Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành. Xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng.Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhân bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhân cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp.Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi, xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt.Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở.Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô.Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất phải đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, phường 12, quận Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu.(Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Đã thèm tô mì Túy Loan
23/06/2007
Ở đôi bờ sông Tuý, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, dọc QL14B cũ và QL14B mới, rồi cả những đường thôn ngõ xóm, quán ăn nào cũng treo bảng bán mì Quảng. Mì Quảng quán nào cũng ngon, nhưng hơn hết là mì Bà Tỉnh ở gần cầu Giăng - "linh hồn" của mì Quảng Tuý Loan.
Mì Bà Tỉnh có sức hút không chỉ vì quán có truyền thống gần 100 năm, với bí quyết riêng về các công đoạn làm bánh tráng, tráng mì... mà còn ở chất lượng và giá hợp túi tiền với đủ loại khách hàng. Tô mì ngon nhờ nhưn chế biến từ thịt mông con bò vừa tơ. Nước lèo cũng hầm từ xương bò này và nêm đủ loại gia vị vừa ngọt vừa thơm. Đậu phộng (lạc) chọn mẻ không để lâu trên một mùa, rang lửa than vừa đủ độ để giữ chất bùi bùi, mằn mặn của đậu. Rau sống dùng kèm phải chín loại, từ cây cải non đương nụ, cọng giá trắng tinh, rau muống non xanh chẻ nhỏ, lá hành chọn nơi gần củ có màu đậm, xà lách chọn lá xanh lợt… cho đến ngò ta xắt dài để ngọn, tất cả trộn đều với bắp chuối chát xắt mỏng như tơ - thấy đã thèm.
Sợi mì mỏng làm từ gạo xiệc chính gốc Đại Hiệp - Đại Lộc - Quảng Nam, ăn vừa có độ dai, vừa bùi mới ngon. Tô mì Bà Tỉnh chỉ 7.000đ cùng cái bánh tráng đặc sản vùng quê bên bờ sông Tuý. Cũng từ lò bánh tráng nhà bà Tỉnh mà ra, thơm lựng, giòn tan. Khách ở xa, sau khi ăn mì thường mua vài chục bánh tráng mang về làm quà.
Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh. Ngày lễ tết, người dân dưới phố, bà con khắp nơi ngang qua Tuý Loan, đi viếng mộ ở nghĩa trang Gò Cà; thăm viếng người thân, bạn bè… vẫn để bụng ăn tô mì Quảng. Theo anh Nguyễn Đại Minh - truyền nhân đời thứ ba, hiện là chủ quán mì Bà Tỉnh cho biết, bình quân mỗi ngày bán 150 tô, chủ nhật lên đến 600 tô, còn những ngày tết thì trên cả ngàn là thường. "Nhà mình một năm chỉ nghỉ bán ngày ba mươi để rước ông bà, còn lại bán suốt".
P03
Người Quảng Nam cho mì Quảng là món nhất đã đành, xứ Quảng, mỗi vùng đều cho mì vùng mình là vô địch, thậm chí mỗi gia đình đều khen mì nhà mình nấu là tuyệt hạng. Đúng với câu "Quảng Nam hay cãi". Mà còn ở cái tính dễ thích nghi của món mì Quảng. Thực vậy, chỗ giống nhau của mì Quảng là cùng sợi mì, lá rau nhưng cái nhưn bỏ lên đó là tuỳ ý. Từ tôm, thịt, cua, cá đến gà, sứa... đều được. Chẳng hạn, mì Quảng Hội An chỉ hai món như cơ bản là tôm và thịt ba chỉ nhưng về phía biển thường có thêm cua, sứa. Mì Quảng Đại Lộc có nhưn cá vì dồi dào nguồn hải sản. Còn mì Quảng Tam Kỳ, Thăng Bình nổi tiếng về gà do nơi đây nuôi gia cầm chuyên nghiệp. Cái ngon bắt đầu bằng sợi mì, nó dạng bột gạo đổ thành bánh rồi xắt sợi; xắt bằng tay hay dùng máy xắt. Nhưng xắt mì công nghiệp ra những sợi quá đều đặn, đâm ngán. Người sành điệu vẫn thích ăn mì xắt tay hơn. Nó không đều nhưng thật thà, chân chất. Thường mì pha thêm chút nghệ cho có màu bắt mắt. Tuy nhiên, linh hồn của tô mì Quảng vẫn là nước lèo. Đó là thứ nước đậm vị tôm thịt quyện vào. Nếu nước lèo dở, dù có bỏ vào sơn hào, hải vị gì tô mì cũng thành dở. Ở Sài Gòn, đi tìm tô mì Quảng đúng nghĩa, rất khó. Bởi hầu hết đều lai kiểu Sài Gòn, cho quá nhiều nước lèo vào tô mì. Một tô mì Quảng đúng khẩu vị dùng nước lèo vừa phải. Ăn xong tô mì, không còn chút nước lèo nào ở đáy tô. Muốn ăn mì Quảng, có thể đến chợ Bà Hoa - chợ Quảng Nam giữa Sài Gòn - có cả chục chỗ bán. Nhưng đúng điệu nhất đến chỗ ông Trí đường Bàu Cát 2, P.12, Q. Tân Bình. Ông Trí, giáo viên ở Hội An, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề bán mì Quảng đúng điệu. Theo SGTT
Thứ Tư, 23 tháng 4, 2008
Diễn văn của Brustus và Antony
DIỄN VĂN CỦA BRUTUS VÀ ANTONY
(trích trong vở “ Julies Ceasar”)
William Shkespeare (1564 – 1616)
Lê Bá Kông dịch
Lời giới thiệu: Sau cuộc viễn chính tại Tây Ban Nha ,Ceasar, vị tướng La Mã, ca khúc khải hoàn trở về quê hương . Ông được lòng mến yêu của phần đông, dân La Mã, nhưng vì tham vọng ngày một tăng của ông, nên có một nhóm thượng nghị sĩ đứng đầu là Brutus và Cassius âm mưu trừ khủ ông ấy, chỉ vì họ nghĩ tới nền Tự Do.
Caesar bị hạ sát ngay tại nghị viện.Khi nghe tin về cái chết của ông, dân La Mã nổi lên giữa sự phẩn nộ , đòi nhóm mưu thần kia phải giải thích về hành động của họ.
Đọan trích diễn sau đây sẽ cho ta thấy thế nào là sức mạnh của lời nói để ảnh hưởng tới quần chúng, và đồng thời, nó sẽ cho ta dịp thưởng thức và ngợi khen thiên tài của William Shkespeare thi sĩ kịch gia vĩ đại nhất trong các thế hệ.
LÊ BÁ KÔNG
+++
Brutus: Hãy kiên nhẫn tới cùng
Hỡi dân La Mã, hỡi đồng bào và các bạn thân yêu ! Hãy nghe tôi vì chính nghĩa của tôi, và hãy im lặng để các bạn có thể nghe được : hãy tin tôi vì danh dự tôi và hãy tôn trọng danh dự tôi để các bạn có thể tin được tôi: hãy phê phán tôi bằng trí thông thái của các bạn để có thể phân định sáng suốt hơn. Có ai chăng giữa đám đông này, các bạn thân mến nào của Ceasar , đối với bạn đó tôi xin nói là tình yêu của Brutus này đối với Ceasar chẳng kém gì tình yêu của bạn đó đối với Ceasar đâu. Vậy nếu bạn đó hỏi tại sao Brutus lại nổi lên chống lại Ceasar, thì đây là câu trả lời của tôi : - Không phải tôi kém yêu Ceasar, nhưng tôi yêu La Mã hơn, các bạn muốn Ceasar, và bạn chết làm nô lệ cả không; hay là các bạn muốn rằng Ceasar chết để các bạn sống làm người tự do ? Vì Ceasar yêu tôi, tôi khóc Ceasar. Khi Ceasar gặp vận may tôi mừng cho ông ấy . Vì Ceasar anh dũng, tôi kính ông ấy; nhưng, vì Ceasar có tham vọng , tôi giết Ceasar. Đây, lệ để đáp lại tình yêu của Ceasar, niềm hân hoan để đáp lại vận may của Ceasar, lòng kính trọng trước chí khí anh dũng của Ceasar; nhưng tôi đã đưa cái chết cho Ceasar để đáp lại tham vọng của ông ấy. Ai đây đê tiện đến nổi muốn làm nô lệ ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đây lỗ mãng; đến nổi không muốn làm một dân La Mã ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đấy đê tiện đến nổi không yêu nước ? Nếu có ai chăng , hãy nói đi, vì đối với người đó tôi đã có lỗi. Tôi tạm ngừng để đợi câu trả lời.
Đồng thanh : Không ai cả. Brutus, không ai cả !
Brutus: Vậy tôi đã không xúc phạm tới ai cả .Tôi đã không xử với Ceasar quá điều các bạn có thể xử với Brutus tôi đây. Cái chết của Ceasar được ghi trong nghị viện ; sự vinh quang của ông ấy không bị giảm đi , vì ông ấy đáng với nó lắm ; cái lỗi của ông ấy không bị tăng lên , mà vì nó ông ấy đền bằng cái chết của ông ấy.
(Antony và các người khác vào, mang theo xác Ceasar)
Đây là thi hài ông ấy, có Mark Antony than khóc; tuy Mark Antony không nhúng tay vào vái chết đó, ông ấy cũng sẽ , vì cái chết của Ceasar, được một địa vị trong nền Cộng hòa , mà ai trong các bạn lại không được ? Trước khi tôi đi, tôi muốn thêm câu này – vì tôi đã giết người thân mến nhất của tôi chỉ vì sự lợi ích cho La Mã , vậy tôi vẫn dành cùng con dao găm này cho chính tôi, khi nước tôi cần tới cái chết của tôi.
Đồng thanh : Muôn năm, Brutus ! muôn năm, muôn năm !
Công dân thứ I . Hãy rước ông ấy về nhà một cách vẻ vang
Công dân thứ II. Hãy dựng một pho tượng cho ông ấy cùng tổ tiên ông ấy.
Công dân thứ III. Hãy tôn ông ấy là Ceasar
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy dành các ưu quyền của Ceasar cho Brutus
Công dân thứ I . Ta sẽ rước ông ấy về nhà
Với tiếng hò reo và hoan hô
Brutus: Hỡi đồng bào…
Công dân thứ II: Im, hãy im lặng! Brutus nói.
Công dân thứ I :Nào, hãy im lặng !
Brutus: Hỡi đồng bào yêu quí, hãy để mặc tôi một mình và vì tôi, hãy ở lại đây với Antony: hãy tôn kính thi hài Ceasar và hãy tôn trọng bài điếu văn của Antony, nêu cao sự vẻ vang của Ceasar, mà Mark Antony được phép của chúng tôi cho đọc. Tôi khẩn khỏan xin các bạn đừng một ai đi khỏi nơi đây, trừ tôi ; các bạn hãy ở lại cho tới khi Antony đã nói xong.
Công dân thứ I : Hãy ở lại ! ta hãy nghe Mark Antony.
Công dân thứ III: Hãy để ông ấy bứoc lên diễn đàn công cộng ; ta muốn nghe ông ấy. Antony cao quý hãy bứoc lên.
Antony: Vì Brutus , tôi xin cám ơn các bạn.
(Bước lên diễn đàn
Công dân thứ IV: Chàng ta nói gì đến Brutus đấy ?
Công dân thứ III: Ông ấy nói, vì Brutus, ông ấy thấy ông ấy hàm ơn cả bọn ta
Công dân thứ IV: Tốt hơn lão ấy đừng nói gì phạm tới Brutus ở đây
Công dân thứ I : Lão Ceasar này là một tên bạo chúa.
Công dân thứ III: A, cái đó thì chắc hẳn rồi. Ta có phúc mà thành La Mã trừ khử được hắn.
Công dân thứ II: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe Antony có thể nói được gì
Antony: Hỡi dân La Mã yêu quý.
Các công dân: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe ông ấy.
Antony: Hỡi các bạn, hỡi dân La Mã , đồng bào, hãy nghe tôi ; tôi tới đây để an táng Ceasar, chứ không phải để khen ông ấy . Điều ác con người làm ra sống sau khi họ đã khuất, nhưng điều thiện thì tường bị chôn vùi với xương họ : trường hợp của Ceasar cũng vậy.
Brutus cao quý vừa nói với các bạn rằng Ceasar có tham vọng, nếu quả vậy, thì đó là một điều nhằm lắm, và Ceasar đã trả sự nhầm đó với một giá quá cao.
Được phép của Brutus và các vị khác – vì Brutus là một người cao thượng , và tất cả các vị đó đều là người cao thượng cả - tôi tới đây để vài lời trong đám tan Ceasar. Ông ấy là bạn tôi, trung thành và công bình với tôi ; nhưng Brutus nói rằng ông ấy tham tàn va Brutus là người cao thượng.
Ceasar đã mang nhiều tù binh về thành Rome, tiền chuộc tù binh đó đã đổ đầy công quỹ ; hành động này của Ceasar có gì tham tàn không ?
Khi dân nghèo khóc, Ceasar đã nhỏ lệ : lòng tham vọng phải làm bằng chất cứng rắn hơn, thế mà Brutus nói rằng ông ấy có tham vọng, và Brutus lại là một vị cao thượng.
Quý bạn đều đã thấy rằng vào ngày Lễ Bình, ba lần tôi dâng ông ấy chiếc vương miện, mà ba lần ông ấy khước từ : thế có là tham vọng không ? Tuy vậy, Brutus nói rằng Ceasar có tham vọng, và chắc hẳn Brutus là một vị cao quý.
Tôi nói đây không phải là để gièm pha những lời Brutus đã nói, nhưng thấy cần phải nói những điều tôi biết.
Các bạn đều đã có lần yêu mến Ceasar , không phải là không lý do : vậy vì lý do gì quý bạn cầm lòng không khóc Ceasar ?
Than ôi ! Công lý ! mi đã đào tẩu cùng vói loài lang sói cả, và con người đã mất cả lý trí của họ. Xin lỗi các bạn, tim tôi lúc này nằm trong linh cữu kia cùng với Ceasar, và tôi phải tạn ngừng cho tới khi nó trở lại với tôi.
Công dân thứ I : Ta thiết nghĩ lời nói của anh ấy nghe được đấy
Công dân thứ II : Nếu anh xét cặn kẽ việc này , anh sẽ thấy là Ceasar cũng có điều dở lắm
Công dân thứ III :Thưa các bạn, thế à ? Tôi e rằng sẽ có người tệ hơn thay vào chỗ ông ta.
Công dân thứ IV: Anh có để ý đến lời nói của Antony không ? Ceasar không chịu nhận vương miện, vậy thì hiển nhiên ông ấy không tham vọng.
Công dân thứ I : Nếu vậy thì có kẻ phải đền lỗi đó với một giá cao đấy.
Công dân thứ II: Thương hại quá ! Mắt Antony đỏ như lữa vì than khóc
Công dân thứ III: Khắp Rome không ai cao thượng bằng Antony
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy nghe, ông ấy lại bắt đầu nói.
Antony: Nhưng mới ngày hôm qua, lời nói của Ceasar có lẽ đã chấn động thế giới , bây giờ ông ấy nằm kia kìa , và không ai cả, dù kẻ hèn mọn, tỏ lòng tôn kính ông ấy.
Hỡi các bạn, nếu tôi có ý định khích động tâm hồn khích động để nổi lọan , tôi sẽ có lỗi tới Brutus và Cassius, mà như các bạn biết là những vị đáng kính cả . Tôi không muốn xúc phạm tới họ đâu. Chẳng thà tôi phạm tới kẻ chết, xúc phạm chính vì tôi và các bạn , hơn là phạm tới các vị đáng kính như thế . Nhưng đây là một văn kiện có dấu triện của Ceasar tôi kiếm thấy trong phòng riêng của ông ấy, đó là chúc thư của Ceasar : Công chúng mà cứ nghe bản chúc thư này thôi xin lỗi các bạn – tôi không có ý định đọc nó đâu – họ sẽ tới hôn những thương tích của Ceasar quá cố và nhúng khăn tay của họ vào máu thiêng liêng của Ceasar, hơn nữa họ còn xin một sợi tóc của ông ấy để làm vật kỷ niệm và khi chết, sẽ ghi nó rong chúc thư của họ , coi nó là một di vật quý giá di truyền lại cho con cháu họ.
Công dân thứ IV: Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư : hãy đọc nó đi , Mark Antony !
Mọi người : Bản chúc thu, bản chúc thu ! Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư .
Anttony: Hãy kiên nhẫn các bạn thân mến, tôi không đọc nó đâu, tốt hơn các bạn không nên biết Ceasar yêu các bạn như thế nào.
Các bạn không là gỗ, các bạn không là đá, nhưng là người và vì các bạn là người, khi nghe bản chúc thư của Ceasar, nó sẽ làm bốc lửa căm hờn của các bạn, nó sẽ làm các bạn nổi điên lên. Tốt hơn các bạn không biết các bạn là kẻ thừa kế của Ceasar , vì nếu bạn biết, than ơi ! Sự thể ra sao ?
Công dân thứ IV: Hãy đọc bản chúc thư, Antony , chúng tôi nghe nó, ông phải đọc bản chúc thư cho chúng tôi , chúc thư của Ceasar
Antony : Xin các bạn hãy kiên tâm ! Các bạn hãy đợi chút nữa ! Tôi đã quá đà khi nói cho các bạn biết về bản chúc thư đó . Tôi e rằng tôi xúc phạm tới các vị cao quý mà dao găm của họ đã đâm Ceasar, tôi sợ lắm.
Công dân thứ IV: Bọn chúng là quân phản quốc : cao quý gì chúng !
Đồng thanh: Bản chúc thư ! Chúc thư !
Antony: Vậy các bạn nhất định buộc tôi đọc bản chúc thư à ? Hãy đứng xung quanh thi thể của Ceasar , và để tôi cho các bạn thấy người đã lập bản chúc thư đó . Tôi bước xuống nhé. Và các bạn có cho phép tôi không ?
Dăm sáu công dân: Xuống đi .
Công dân thứ II: Hãy bước xuống
Công dân thứ III: Bạn được phép
(Antony bước xuống)
Công dân thứ IV:Một vòng tròn ; hãy đứng chung quanh
Công dân thứ I: Đứng khỏi linh cữu, hãy đứng xa khỏi thi thể
Công dân thứ II: Hãy dành chỗ cho Antony, Antony cao thượng nhất.
Antony: Này, các bạn đừng chen tôi như thế, hãy đứng xa ra.
Dăm sáu công dân: Đứng lùi lại ; hãy dành chỗ ; lùi lại .
Antony: Nếu bạn có nước mắt, bây giờ hãy sửa soạn nhỏ lệ đi. Các bạn đều biết áo khóac này chứ. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ceasar khóac nó , đó là vào một buổi chiều mùa hạ, trong doanh trại ông ấy ; ngày ông ấy thắng quân Nervii.
Hãy nhìn chính nơi đây dao găm của Cassius đã đâm qua : trông kìa, thằng Casca ghen tị đã đâm một vết ghê chưa . Qua chỗ này, Brutus yêu quý đã đâm ; và trong khi ông ấy rút đọan thép đáng nguyền rủa kia ra , trông kìa, máu của Ceasar theo nó ra, như vôi vàng chạy ra khỏi cửa để muốn biết rằng có phải Brutus đã làm một cách tàn nhẫn đến thế hay không ? Vì Brutus, như các bạn biết , là thiên thần của Ceasar . Hỡi thần thánh, hãy chứng minh Ceasar yêu Brutus đến thế nào !
Đây là vết đâm ác liệt nhất trong tất cả , vì khi Ceasar trông thấy ông ấy đâm, thì sự vô ơn, mãnh liệt hơn cả cánh tay quân phản bội, đã hòan tòan đánh quy Ceasar ; thế rồi trái tim dũng cảm của ông ấy đã tan nát, và với áo khóac này, ông ấy đã phủ kín mặt ngay ở chân pho tượng Pompey đây, trong khi máu chảy lai láng Ceasar vĩ đại đã ngã gục.
Than ôii ! Hỡi đồng bào, thật là sự sụp đỗ tan tành ! Rồi tôi, các ban, và tất cả chúng tâ sẽ ngã quỵ, trong khi sự phản bội đẫm máu tung hoành trên ta.
À , bây giờ các bạn khóc ; và tôi thấy các bạn cảm thấy lòng thương lên tới tột bực ; đây là các giọt lệ quý hóa lắm . Các bạn nhân từ, sao các bạn đã khóc khi chỉ mới trông thấy chiếc áo Ceasar bị thương tổn ? Hãy nhìn đây, đây mới chính là người đã bị quân phản bội xâu xé
Công dân thứ I: Thật là cảnh tượng đau lòng !
Công dân thứ II: Hỡi Ceasar uy linh
Công dân thứ III: Quân phản bội, quân điểu giả !
Công dân thứ I: Thật là cảnh đẫm máu nhất !
Công dân thứ II: Chúng tôi sẽ nhất quyết báo thù .
Đồng thanh : Báo thù ! Hãy đi kiếm chúng nó ! Hãy đốt ! Giết ! Đừng để một tên phản bội nào sống sót.
Antony: Hỡi đồng bào,hãy khoan
Công dân thứ I: Im lặng ! Hãy nghe Antony đáng kính.
Công dân thứ II: Ta quyết nghe ông ấy, theo ông ấy và chết cùng ông ấy .
Antony: Hỡi các bạn thân mến , hỡi các bạn yêu quý ! Đừng để tôi khích thích các bạn nổi loạn một cách đột nhiên như thế này. Các vị đã gây ra hành động này đều là đáng kính cả : thật quả tôi không hiểu vì mối tư thù gì đã khiến họ có cử chỉ như vậy. Họ là những người thông thái và cao quý , và chắc chắn , sẽ dẫn ra nhiều lý do để giải đáp với các bạn.
Hỡi các bạn , tôi không đến đây để thu phục lòng các bạn. Tôi đâu có phải là nhà hùng biện như Brutus , nhưng như các bạn đều biết , tôi chỉ là người chất phác cục cằn có lòng yêu bạn mình thôi, và điều đó họ biết lắm nên mới cho phép tôi nói giữa công chúng về bạn tôi. Tôi khôn khéo thì không, lời nói kém, sức mạnh, hành động, gịong nói, và cả đến tài hùng biện cũng không có để mà khích động nhiệt quyết của thính giả . Tôi chỉ nói thẳng thắn thôi ; nói với các bạn những điều mà chính các bạn cũng đã biết ; tôi cho các bạn thấy các vết thương của Ceasar, các vết thương đó là những cái miệng câm đáng thương quá , và tôi đã nhờ nó nói giùm tôi. Nhưng giả thử tôi là Brutus, và Brutus lại là Antony, lúc đó sẽ có một chàng Antony làm tâm hồn các bạn nổi xung, và y sẽ gắn từng cái lưỡi vào các thương tích của Ceasar để khích động đến các tảng đá của thành Rome cũng trổi dậy làm loạn.
Đồng thanh: Ta quyết nổi loạn !
Công dân thứ I : Ta hãy đốt nhà của Brutus.
Công dân thư III: Vậy thì ta hãy đi nào ! Đi kiếm bọn mưu sĩ đó !
Antony: Hỡi đồng bào, hãy nghe tôi ; hãy nghe tôi nói đã !
Đồng thanh: Im lặng ! Hãy nghe Antony cao quý nhất !
Antony: Sao đấy các bạn, các bạn đi hành động mà không biết vì lý do gì : Vì gì ma Ceasar đáng được lòng luyến ái của quý bạn như thế này ? À, các bạn không biết ; vâỵ , tôi phải nói cho các bạn hay . Các bạn đã quên bản chúc thư tôi vừa nói với các bạn .
Đồng thanh: Thật vậy ! Bản chúc thư ! Ta hãy ở lại nghe bản chúc thư .
Antony: Đây là bản chúc thư, và có cả dấu triện của Ceasar đóng lên.Ông ấy tặng cho các công dân Rome, chẳng trừ ai , mỗi người bảy mươi lăm đồng bạc.
Công dân thứ II: Ceasar cao thượng nhất ! Ta quyết báo thù cái chết của ông ấy.
Công dân thứ III: Ceasar vĩ đại !
Antony: Hãy kiên nhẫn nghe tôi.
Đồng thanh: Im lặng !
Antony: Hơn nữa, Ceasar đã để lại cho các bạn tất cả những lối đi trong vườn hoa ông ấy, các hàng cây thuộc tư thất ông ấy và cả những vường quả mới trồng ở bên bờ sông Thái Bình này ; ông ấy đã để lại tất cả cho các bạn , và cho con cháu các bạn để hưởng đời đời , những nơi giải trí công cộng để các bạn đi dạo chơi và tiêu khiển. Đấy , ta đã có một vi Ceasar như thế ! Bao giờ mới lại có một vị như vậy nữa ?
Công dân thứ I: Không bao giờ, không bao giờ. Nào, chúng ta hãy đi ! Ta hãy làm lễ hỏa táng cho Ceasar ở nơi thánh trường và với các thanh củi cháy đó, ta sẽ đốt nhà bọn phản bội. Hãy rước xác Ceasar.
Công dân thứ II: Đi kiếm lửa.
Công dân thứ III: Phá những ghế dài.
Công dân thư IV: Phá ghế, cửa sổ, bất cứ cái gì.
( Các công dân rước thi thể ra )
Antony: Bây giờ , tung hoành đi, Ác thần ! Mi được tự do rồi muốn làm gì thì làm !
(trích trong vở “ Julies Ceasar”)
William Shkespeare (1564 – 1616)
Lê Bá Kông dịch
Lời giới thiệu: Sau cuộc viễn chính tại Tây Ban Nha ,Ceasar, vị tướng La Mã, ca khúc khải hoàn trở về quê hương . Ông được lòng mến yêu của phần đông, dân La Mã, nhưng vì tham vọng ngày một tăng của ông, nên có một nhóm thượng nghị sĩ đứng đầu là Brutus và Cassius âm mưu trừ khủ ông ấy, chỉ vì họ nghĩ tới nền Tự Do.
Caesar bị hạ sát ngay tại nghị viện.Khi nghe tin về cái chết của ông, dân La Mã nổi lên giữa sự phẩn nộ , đòi nhóm mưu thần kia phải giải thích về hành động của họ.
Đọan trích diễn sau đây sẽ cho ta thấy thế nào là sức mạnh của lời nói để ảnh hưởng tới quần chúng, và đồng thời, nó sẽ cho ta dịp thưởng thức và ngợi khen thiên tài của William Shkespeare thi sĩ kịch gia vĩ đại nhất trong các thế hệ.
LÊ BÁ KÔNG
+++
Brutus: Hãy kiên nhẫn tới cùng
Hỡi dân La Mã, hỡi đồng bào và các bạn thân yêu ! Hãy nghe tôi vì chính nghĩa của tôi, và hãy im lặng để các bạn có thể nghe được : hãy tin tôi vì danh dự tôi và hãy tôn trọng danh dự tôi để các bạn có thể tin được tôi: hãy phê phán tôi bằng trí thông thái của các bạn để có thể phân định sáng suốt hơn. Có ai chăng giữa đám đông này, các bạn thân mến nào của Ceasar , đối với bạn đó tôi xin nói là tình yêu của Brutus này đối với Ceasar chẳng kém gì tình yêu của bạn đó đối với Ceasar đâu. Vậy nếu bạn đó hỏi tại sao Brutus lại nổi lên chống lại Ceasar, thì đây là câu trả lời của tôi : - Không phải tôi kém yêu Ceasar, nhưng tôi yêu La Mã hơn, các bạn muốn Ceasar, và bạn chết làm nô lệ cả không; hay là các bạn muốn rằng Ceasar chết để các bạn sống làm người tự do ? Vì Ceasar yêu tôi, tôi khóc Ceasar. Khi Ceasar gặp vận may tôi mừng cho ông ấy . Vì Ceasar anh dũng, tôi kính ông ấy; nhưng, vì Ceasar có tham vọng , tôi giết Ceasar. Đây, lệ để đáp lại tình yêu của Ceasar, niềm hân hoan để đáp lại vận may của Ceasar, lòng kính trọng trước chí khí anh dũng của Ceasar; nhưng tôi đã đưa cái chết cho Ceasar để đáp lại tham vọng của ông ấy. Ai đây đê tiện đến nổi muốn làm nô lệ ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đây lỗ mãng; đến nổi không muốn làm một dân La Mã ? Nếu có ai chăng, hãy nói đi : đối với người đó, tôi đã xúc phạm. Ai đấy đê tiện đến nổi không yêu nước ? Nếu có ai chăng , hãy nói đi, vì đối với người đó tôi đã có lỗi. Tôi tạm ngừng để đợi câu trả lời.
Đồng thanh : Không ai cả. Brutus, không ai cả !
Brutus: Vậy tôi đã không xúc phạm tới ai cả .Tôi đã không xử với Ceasar quá điều các bạn có thể xử với Brutus tôi đây. Cái chết của Ceasar được ghi trong nghị viện ; sự vinh quang của ông ấy không bị giảm đi , vì ông ấy đáng với nó lắm ; cái lỗi của ông ấy không bị tăng lên , mà vì nó ông ấy đền bằng cái chết của ông ấy.
(Antony và các người khác vào, mang theo xác Ceasar)
Đây là thi hài ông ấy, có Mark Antony than khóc; tuy Mark Antony không nhúng tay vào vái chết đó, ông ấy cũng sẽ , vì cái chết của Ceasar, được một địa vị trong nền Cộng hòa , mà ai trong các bạn lại không được ? Trước khi tôi đi, tôi muốn thêm câu này – vì tôi đã giết người thân mến nhất của tôi chỉ vì sự lợi ích cho La Mã , vậy tôi vẫn dành cùng con dao găm này cho chính tôi, khi nước tôi cần tới cái chết của tôi.
Đồng thanh : Muôn năm, Brutus ! muôn năm, muôn năm !
Công dân thứ I . Hãy rước ông ấy về nhà một cách vẻ vang
Công dân thứ II. Hãy dựng một pho tượng cho ông ấy cùng tổ tiên ông ấy.
Công dân thứ III. Hãy tôn ông ấy là Ceasar
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy dành các ưu quyền của Ceasar cho Brutus
Công dân thứ I . Ta sẽ rước ông ấy về nhà
Với tiếng hò reo và hoan hô
Brutus: Hỡi đồng bào…
Công dân thứ II: Im, hãy im lặng! Brutus nói.
Công dân thứ I :Nào, hãy im lặng !
Brutus: Hỡi đồng bào yêu quí, hãy để mặc tôi một mình và vì tôi, hãy ở lại đây với Antony: hãy tôn kính thi hài Ceasar và hãy tôn trọng bài điếu văn của Antony, nêu cao sự vẻ vang của Ceasar, mà Mark Antony được phép của chúng tôi cho đọc. Tôi khẩn khỏan xin các bạn đừng một ai đi khỏi nơi đây, trừ tôi ; các bạn hãy ở lại cho tới khi Antony đã nói xong.
Công dân thứ I : Hãy ở lại ! ta hãy nghe Mark Antony.
Công dân thứ III: Hãy để ông ấy bứoc lên diễn đàn công cộng ; ta muốn nghe ông ấy. Antony cao quý hãy bứoc lên.
Antony: Vì Brutus , tôi xin cám ơn các bạn.
(Bước lên diễn đàn
Công dân thứ IV: Chàng ta nói gì đến Brutus đấy ?
Công dân thứ III: Ông ấy nói, vì Brutus, ông ấy thấy ông ấy hàm ơn cả bọn ta
Công dân thứ IV: Tốt hơn lão ấy đừng nói gì phạm tới Brutus ở đây
Công dân thứ I : Lão Ceasar này là một tên bạo chúa.
Công dân thứ III: A, cái đó thì chắc hẳn rồi. Ta có phúc mà thành La Mã trừ khử được hắn.
Công dân thứ II: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe Antony có thể nói được gì
Antony: Hỡi dân La Mã yêu quý.
Các công dân: Hãy im lặng ! Ta hãy nghe ông ấy.
Antony: Hỡi các bạn, hỡi dân La Mã , đồng bào, hãy nghe tôi ; tôi tới đây để an táng Ceasar, chứ không phải để khen ông ấy . Điều ác con người làm ra sống sau khi họ đã khuất, nhưng điều thiện thì tường bị chôn vùi với xương họ : trường hợp của Ceasar cũng vậy.
Brutus cao quý vừa nói với các bạn rằng Ceasar có tham vọng, nếu quả vậy, thì đó là một điều nhằm lắm, và Ceasar đã trả sự nhầm đó với một giá quá cao.
Được phép của Brutus và các vị khác – vì Brutus là một người cao thượng , và tất cả các vị đó đều là người cao thượng cả - tôi tới đây để vài lời trong đám tan Ceasar. Ông ấy là bạn tôi, trung thành và công bình với tôi ; nhưng Brutus nói rằng ông ấy tham tàn va Brutus là người cao thượng.
Ceasar đã mang nhiều tù binh về thành Rome, tiền chuộc tù binh đó đã đổ đầy công quỹ ; hành động này của Ceasar có gì tham tàn không ?
Khi dân nghèo khóc, Ceasar đã nhỏ lệ : lòng tham vọng phải làm bằng chất cứng rắn hơn, thế mà Brutus nói rằng ông ấy có tham vọng, và Brutus lại là một vị cao thượng.
Quý bạn đều đã thấy rằng vào ngày Lễ Bình, ba lần tôi dâng ông ấy chiếc vương miện, mà ba lần ông ấy khước từ : thế có là tham vọng không ? Tuy vậy, Brutus nói rằng Ceasar có tham vọng, và chắc hẳn Brutus là một vị cao quý.
Tôi nói đây không phải là để gièm pha những lời Brutus đã nói, nhưng thấy cần phải nói những điều tôi biết.
Các bạn đều đã có lần yêu mến Ceasar , không phải là không lý do : vậy vì lý do gì quý bạn cầm lòng không khóc Ceasar ?
Than ôi ! Công lý ! mi đã đào tẩu cùng vói loài lang sói cả, và con người đã mất cả lý trí của họ. Xin lỗi các bạn, tim tôi lúc này nằm trong linh cữu kia cùng với Ceasar, và tôi phải tạn ngừng cho tới khi nó trở lại với tôi.
Công dân thứ I : Ta thiết nghĩ lời nói của anh ấy nghe được đấy
Công dân thứ II : Nếu anh xét cặn kẽ việc này , anh sẽ thấy là Ceasar cũng có điều dở lắm
Công dân thứ III :Thưa các bạn, thế à ? Tôi e rằng sẽ có người tệ hơn thay vào chỗ ông ta.
Công dân thứ IV: Anh có để ý đến lời nói của Antony không ? Ceasar không chịu nhận vương miện, vậy thì hiển nhiên ông ấy không tham vọng.
Công dân thứ I : Nếu vậy thì có kẻ phải đền lỗi đó với một giá cao đấy.
Công dân thứ II: Thương hại quá ! Mắt Antony đỏ như lữa vì than khóc
Công dân thứ III: Khắp Rome không ai cao thượng bằng Antony
Công dân thứ IV: Bây giờ hãy nghe, ông ấy lại bắt đầu nói.
Antony: Nhưng mới ngày hôm qua, lời nói của Ceasar có lẽ đã chấn động thế giới , bây giờ ông ấy nằm kia kìa , và không ai cả, dù kẻ hèn mọn, tỏ lòng tôn kính ông ấy.
Hỡi các bạn, nếu tôi có ý định khích động tâm hồn khích động để nổi lọan , tôi sẽ có lỗi tới Brutus và Cassius, mà như các bạn biết là những vị đáng kính cả . Tôi không muốn xúc phạm tới họ đâu. Chẳng thà tôi phạm tới kẻ chết, xúc phạm chính vì tôi và các bạn , hơn là phạm tới các vị đáng kính như thế . Nhưng đây là một văn kiện có dấu triện của Ceasar tôi kiếm thấy trong phòng riêng của ông ấy, đó là chúc thư của Ceasar : Công chúng mà cứ nghe bản chúc thư này thôi xin lỗi các bạn – tôi không có ý định đọc nó đâu – họ sẽ tới hôn những thương tích của Ceasar quá cố và nhúng khăn tay của họ vào máu thiêng liêng của Ceasar, hơn nữa họ còn xin một sợi tóc của ông ấy để làm vật kỷ niệm và khi chết, sẽ ghi nó rong chúc thư của họ , coi nó là một di vật quý giá di truyền lại cho con cháu họ.
Công dân thứ IV: Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư : hãy đọc nó đi , Mark Antony !
Mọi người : Bản chúc thu, bản chúc thu ! Chúng tôi muốn nghe bản chúc thư .
Anttony: Hãy kiên nhẫn các bạn thân mến, tôi không đọc nó đâu, tốt hơn các bạn không nên biết Ceasar yêu các bạn như thế nào.
Các bạn không là gỗ, các bạn không là đá, nhưng là người và vì các bạn là người, khi nghe bản chúc thư của Ceasar, nó sẽ làm bốc lửa căm hờn của các bạn, nó sẽ làm các bạn nổi điên lên. Tốt hơn các bạn không biết các bạn là kẻ thừa kế của Ceasar , vì nếu bạn biết, than ơi ! Sự thể ra sao ?
Công dân thứ IV: Hãy đọc bản chúc thư, Antony , chúng tôi nghe nó, ông phải đọc bản chúc thư cho chúng tôi , chúc thư của Ceasar
Antony : Xin các bạn hãy kiên tâm ! Các bạn hãy đợi chút nữa ! Tôi đã quá đà khi nói cho các bạn biết về bản chúc thư đó . Tôi e rằng tôi xúc phạm tới các vị cao quý mà dao găm của họ đã đâm Ceasar, tôi sợ lắm.
Công dân thứ IV: Bọn chúng là quân phản quốc : cao quý gì chúng !
Đồng thanh: Bản chúc thư ! Chúc thư !
Antony: Vậy các bạn nhất định buộc tôi đọc bản chúc thư à ? Hãy đứng xung quanh thi thể của Ceasar , và để tôi cho các bạn thấy người đã lập bản chúc thư đó . Tôi bước xuống nhé. Và các bạn có cho phép tôi không ?
Dăm sáu công dân: Xuống đi .
Công dân thứ II: Hãy bước xuống
Công dân thứ III: Bạn được phép
(Antony bước xuống)
Công dân thứ IV:Một vòng tròn ; hãy đứng chung quanh
Công dân thứ I: Đứng khỏi linh cữu, hãy đứng xa khỏi thi thể
Công dân thứ II: Hãy dành chỗ cho Antony, Antony cao thượng nhất.
Antony: Này, các bạn đừng chen tôi như thế, hãy đứng xa ra.
Dăm sáu công dân: Đứng lùi lại ; hãy dành chỗ ; lùi lại .
Antony: Nếu bạn có nước mắt, bây giờ hãy sửa soạn nhỏ lệ đi. Các bạn đều biết áo khóac này chứ. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ceasar khóac nó , đó là vào một buổi chiều mùa hạ, trong doanh trại ông ấy ; ngày ông ấy thắng quân Nervii.
Hãy nhìn chính nơi đây dao găm của Cassius đã đâm qua : trông kìa, thằng Casca ghen tị đã đâm một vết ghê chưa . Qua chỗ này, Brutus yêu quý đã đâm ; và trong khi ông ấy rút đọan thép đáng nguyền rủa kia ra , trông kìa, máu của Ceasar theo nó ra, như vôi vàng chạy ra khỏi cửa để muốn biết rằng có phải Brutus đã làm một cách tàn nhẫn đến thế hay không ? Vì Brutus, như các bạn biết , là thiên thần của Ceasar . Hỡi thần thánh, hãy chứng minh Ceasar yêu Brutus đến thế nào !
Đây là vết đâm ác liệt nhất trong tất cả , vì khi Ceasar trông thấy ông ấy đâm, thì sự vô ơn, mãnh liệt hơn cả cánh tay quân phản bội, đã hòan tòan đánh quy Ceasar ; thế rồi trái tim dũng cảm của ông ấy đã tan nát, và với áo khóac này, ông ấy đã phủ kín mặt ngay ở chân pho tượng Pompey đây, trong khi máu chảy lai láng Ceasar vĩ đại đã ngã gục.
Than ôii ! Hỡi đồng bào, thật là sự sụp đỗ tan tành ! Rồi tôi, các ban, và tất cả chúng tâ sẽ ngã quỵ, trong khi sự phản bội đẫm máu tung hoành trên ta.
À , bây giờ các bạn khóc ; và tôi thấy các bạn cảm thấy lòng thương lên tới tột bực ; đây là các giọt lệ quý hóa lắm . Các bạn nhân từ, sao các bạn đã khóc khi chỉ mới trông thấy chiếc áo Ceasar bị thương tổn ? Hãy nhìn đây, đây mới chính là người đã bị quân phản bội xâu xé
Công dân thứ I: Thật là cảnh tượng đau lòng !
Công dân thứ II: Hỡi Ceasar uy linh
Công dân thứ III: Quân phản bội, quân điểu giả !
Công dân thứ I: Thật là cảnh đẫm máu nhất !
Công dân thứ II: Chúng tôi sẽ nhất quyết báo thù .
Đồng thanh : Báo thù ! Hãy đi kiếm chúng nó ! Hãy đốt ! Giết ! Đừng để một tên phản bội nào sống sót.
Antony: Hỡi đồng bào,hãy khoan
Công dân thứ I: Im lặng ! Hãy nghe Antony đáng kính.
Công dân thứ II: Ta quyết nghe ông ấy, theo ông ấy và chết cùng ông ấy .
Antony: Hỡi các bạn thân mến , hỡi các bạn yêu quý ! Đừng để tôi khích thích các bạn nổi loạn một cách đột nhiên như thế này. Các vị đã gây ra hành động này đều là đáng kính cả : thật quả tôi không hiểu vì mối tư thù gì đã khiến họ có cử chỉ như vậy. Họ là những người thông thái và cao quý , và chắc chắn , sẽ dẫn ra nhiều lý do để giải đáp với các bạn.
Hỡi các bạn , tôi không đến đây để thu phục lòng các bạn. Tôi đâu có phải là nhà hùng biện như Brutus , nhưng như các bạn đều biết , tôi chỉ là người chất phác cục cằn có lòng yêu bạn mình thôi, và điều đó họ biết lắm nên mới cho phép tôi nói giữa công chúng về bạn tôi. Tôi khôn khéo thì không, lời nói kém, sức mạnh, hành động, gịong nói, và cả đến tài hùng biện cũng không có để mà khích động nhiệt quyết của thính giả . Tôi chỉ nói thẳng thắn thôi ; nói với các bạn những điều mà chính các bạn cũng đã biết ; tôi cho các bạn thấy các vết thương của Ceasar, các vết thương đó là những cái miệng câm đáng thương quá , và tôi đã nhờ nó nói giùm tôi. Nhưng giả thử tôi là Brutus, và Brutus lại là Antony, lúc đó sẽ có một chàng Antony làm tâm hồn các bạn nổi xung, và y sẽ gắn từng cái lưỡi vào các thương tích của Ceasar để khích động đến các tảng đá của thành Rome cũng trổi dậy làm loạn.
Đồng thanh: Ta quyết nổi loạn !
Công dân thứ I : Ta hãy đốt nhà của Brutus.
Công dân thư III: Vậy thì ta hãy đi nào ! Đi kiếm bọn mưu sĩ đó !
Antony: Hỡi đồng bào, hãy nghe tôi ; hãy nghe tôi nói đã !
Đồng thanh: Im lặng ! Hãy nghe Antony cao quý nhất !
Antony: Sao đấy các bạn, các bạn đi hành động mà không biết vì lý do gì : Vì gì ma Ceasar đáng được lòng luyến ái của quý bạn như thế này ? À, các bạn không biết ; vâỵ , tôi phải nói cho các bạn hay . Các bạn đã quên bản chúc thư tôi vừa nói với các bạn .
Đồng thanh: Thật vậy ! Bản chúc thư ! Ta hãy ở lại nghe bản chúc thư .
Antony: Đây là bản chúc thư, và có cả dấu triện của Ceasar đóng lên.Ông ấy tặng cho các công dân Rome, chẳng trừ ai , mỗi người bảy mươi lăm đồng bạc.
Công dân thứ II: Ceasar cao thượng nhất ! Ta quyết báo thù cái chết của ông ấy.
Công dân thứ III: Ceasar vĩ đại !
Antony: Hãy kiên nhẫn nghe tôi.
Đồng thanh: Im lặng !
Antony: Hơn nữa, Ceasar đã để lại cho các bạn tất cả những lối đi trong vườn hoa ông ấy, các hàng cây thuộc tư thất ông ấy và cả những vường quả mới trồng ở bên bờ sông Thái Bình này ; ông ấy đã để lại tất cả cho các bạn , và cho con cháu các bạn để hưởng đời đời , những nơi giải trí công cộng để các bạn đi dạo chơi và tiêu khiển. Đấy , ta đã có một vi Ceasar như thế ! Bao giờ mới lại có một vị như vậy nữa ?
Công dân thứ I: Không bao giờ, không bao giờ. Nào, chúng ta hãy đi ! Ta hãy làm lễ hỏa táng cho Ceasar ở nơi thánh trường và với các thanh củi cháy đó, ta sẽ đốt nhà bọn phản bội. Hãy rước xác Ceasar.
Công dân thứ II: Đi kiếm lửa.
Công dân thứ III: Phá những ghế dài.
Công dân thư IV: Phá ghế, cửa sổ, bất cứ cái gì.
( Các công dân rước thi thể ra )
Antony: Bây giờ , tung hoành đi, Ác thần ! Mi được tự do rồi muốn làm gì thì làm !
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)