Lạm bàn về chữ “đồng tử” trong bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Giả Đảo
Lại Quảng Nam
Nhà thơ Giả Đảo (779 - 843) được nổi tiếng trong đời nhà Đường ở Trung Hoa. Ông nói “Mỗi ngày không làm thơ, tâm như giếng bỏ hoang” thế mà có hai câu thơ phải mất ba năm (Nhị cú tam niên đắc – Nhất ngâm song lệ thùy). Thế mới biết làm thơ không phải dễ?
Giả Đảo quê ở Hà Bắc, đi tu từ nhỏ, đến tuổi “ngủ thập tri thiên mệnh” ông gặp Hàn Dũ (768 – 824) rủ rê nên hoàn tục. Ông đi thi, đỗ tiến sĩ, ra làm quan và mất ở Phố Châu, Tứ Xuyên. Ông là người quý trọng chữ nghĩa vì vậy mỗi năm vào đêm trừ tịch, ông mang thơ của mình đặt lên hương án rồi bày mâm cỗ cúng tế. Ông được giữ chức Chủ Bạ Trường Giang và nơi đây ông sáng tác để lại cho đời bộ Trường Giang Tập gồm 10 quyển. Bộ thi phẩm nầy cũng không được nổi tiếng lắm so với những nhà thơ Đường cùng thời.
Giai thoại đề cập đến ông và nhà vua Đường Tuyên Tông như sau: Một hôm nhà vua Đường Tuyên Tông viếng chùa Pháp Kiến, nhà vua cầm thơ ông xem và đọc. Giả Đảo không biết đó là nhà vua nên giật lấy tập thơ và nói: “Ông làm sao xem nổi thơ nầy?”
Nhà vua không nói gì, bỏ ra về. Sau đó có người báo cho ông biết, đó là hoàng đế, ông liền đến hoàng cung tạ tội. Nhà vua không bắt tội mà còn ban cho ông chức Chủ Bạ Trường Giang. Thế mới biết tâm hồn của người quý trọng thơ văn, chữ nghĩa.
Đọc bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Gia Đảo, LQN xin lạm bàn đôi chút về bài thơ nầy vì trong bài có hai chữ “đồng tử” được dịch sang “đệ tử” trong tiếng Việt.
01.- Phiên âm
Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ
Giả Đảo
Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ.
02.- Ý thơ và tinh hoa bài thơ
Tìm đã lâu chưa gặp bạn, khách nay dừng lại nơi người quân tử ở ẩn [dưới tùng là ước lệ chổ ở ẩn], gặp người “học trò nhỏ cùng ruột với Thầy “[đệ tử, nói theo ngôn ngữ thuần Việt bây giờ]. Khách thì nóng lòng muốn gặp, đệ tử thì không muốn khuấy rầy Thầy. Bài thơ khá hay khi lột tả được mức độ tương phản rõ rệt này .
Xin đọc thử bản dịch của LQN
03. - Tùng Hạ Vấn Đồng Tử
Dừng dưới tùng hỏi thăm 2đệtử
- “Thầy con đâu ?” “lành dữ, bấy nay?”
Tà tà …. hái thuốc núi này,
Trùng trùng mây phủ biết thầy phương nao?”
lại quảng nam
Ghi chú
01.- Tận dụng kỷ thuật cấu trúc ngôn ngữ Việt khi thể hiện bằng chữ alphabet của thế kỷ 21, chữ quốc ngữ ngày nay có các dấu chăng ?, …! và màu sắc thể hiện các câu đối thoại, màu đen chỉ cho người kể chuyện, màu đỏ là khách, và màu xanh là đệ tử của người ẩn sĩ. Trong thơ Đường nguyên bản bằng chữ vuông thì làm gì có được cái hình thức thể hiện rõ ràng như chúng ta đang có.
Bản dịch cho thấy 2đệtử rất “ba phải !” phải không quý vị?
02.- Theo tự điển tiếng Việt của Thanh Nghị thì đệ tử là người học trò, thật ra trong ngôn ngữ đời thường thì chữ đệtử [viết liền] là người học trò thân cận, có khi là lớp đàn em thân cận hiểu ý thầy, nó khác với từ học trò… Dĩ nhiên trong giới nhà Phật thì dùng chữ đệ tử [viết rời] thuần nghĩa theo định nghĩa trong các từ điển Hán Việt thông thường .
Để phân biệt tôi đề nghị chúng ta dùng ba từ chỉ người học trò:
Học trò, đệ tử [viết rời, Hán Việt] , đệtử [viết liền cho trường hợp đệ tử là từ thuần Việt]
Khi nào quý vị chấp nhận từ mới thì bạn thấy tiếng Việt chúng ta thật vô địch, và bài thơ dễ cảm nhận hơn, không biết quý vị ra sao?
03.- Ý kiến nhỏ của lạiquảngnam khi định nghĩa từ thuần Việt:
Một từ thuần Việt là từ mà người Việt Nam dùng một cách tự nhiên trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, bất luận trình độ học vấn, nên khi nói là hiểu ngay.
Bản dịch của người xưa
Bản dịch của Tản Đà
Tìm nhà ẩn đạt không gặp
Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa
Chỉ trong dãy núi đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?".
Ngày Nay số 84, Ngày 07-11-1937
Chuyển sang Anh ngữ, do ông trùm Robert Payne dịch
Searching for the hermit in vain
Under the pines I asked the boy,
“My master has gone gathering herbs”, he said.
“He is somewhere in the mountain,
Deep in the clouds where no one knows”
Chia Tao
Kẻ hậu sinh không biết hết nhà thơ Gia Đảo dùng chữ “đồng tử” để ám chỉ “nhân vật nào” khác chứ dịch là “đệtử, đệ tử, học trò” thì mạn phép lạm bàn như đã nêu trên.
LQN
Lại Quảng Nam
Nhà thơ Giả Đảo (779 - 843) được nổi tiếng trong đời nhà Đường ở Trung Hoa. Ông nói “Mỗi ngày không làm thơ, tâm như giếng bỏ hoang” thế mà có hai câu thơ phải mất ba năm (Nhị cú tam niên đắc – Nhất ngâm song lệ thùy). Thế mới biết làm thơ không phải dễ?
Giả Đảo quê ở Hà Bắc, đi tu từ nhỏ, đến tuổi “ngủ thập tri thiên mệnh” ông gặp Hàn Dũ (768 – 824) rủ rê nên hoàn tục. Ông đi thi, đỗ tiến sĩ, ra làm quan và mất ở Phố Châu, Tứ Xuyên. Ông là người quý trọng chữ nghĩa vì vậy mỗi năm vào đêm trừ tịch, ông mang thơ của mình đặt lên hương án rồi bày mâm cỗ cúng tế. Ông được giữ chức Chủ Bạ Trường Giang và nơi đây ông sáng tác để lại cho đời bộ Trường Giang Tập gồm 10 quyển. Bộ thi phẩm nầy cũng không được nổi tiếng lắm so với những nhà thơ Đường cùng thời.
Giai thoại đề cập đến ông và nhà vua Đường Tuyên Tông như sau: Một hôm nhà vua Đường Tuyên Tông viếng chùa Pháp Kiến, nhà vua cầm thơ ông xem và đọc. Giả Đảo không biết đó là nhà vua nên giật lấy tập thơ và nói: “Ông làm sao xem nổi thơ nầy?”
Nhà vua không nói gì, bỏ ra về. Sau đó có người báo cho ông biết, đó là hoàng đế, ông liền đến hoàng cung tạ tội. Nhà vua không bắt tội mà còn ban cho ông chức Chủ Bạ Trường Giang. Thế mới biết tâm hồn của người quý trọng thơ văn, chữ nghĩa.
Đọc bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ của Gia Đảo, LQN xin lạm bàn đôi chút về bài thơ nầy vì trong bài có hai chữ “đồng tử” được dịch sang “đệ tử” trong tiếng Việt.
01.- Phiên âm
Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ
Giả Đảo
Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ.
02.- Ý thơ và tinh hoa bài thơ
Tìm đã lâu chưa gặp bạn, khách nay dừng lại nơi người quân tử ở ẩn [dưới tùng là ước lệ chổ ở ẩn], gặp người “học trò nhỏ cùng ruột với Thầy “[đệ tử, nói theo ngôn ngữ thuần Việt bây giờ]. Khách thì nóng lòng muốn gặp, đệ tử thì không muốn khuấy rầy Thầy. Bài thơ khá hay khi lột tả được mức độ tương phản rõ rệt này .
Xin đọc thử bản dịch của LQN
03. - Tùng Hạ Vấn Đồng Tử
Dừng dưới tùng hỏi thăm 2đệtử
- “Thầy con đâu ?” “lành dữ, bấy nay?”
Tà tà …. hái thuốc núi này,
Trùng trùng mây phủ biết thầy phương nao?”
lại quảng nam
Ghi chú
01.- Tận dụng kỷ thuật cấu trúc ngôn ngữ Việt khi thể hiện bằng chữ alphabet của thế kỷ 21, chữ quốc ngữ ngày nay có các dấu chăng ?, …! và màu sắc thể hiện các câu đối thoại, màu đen chỉ cho người kể chuyện, màu đỏ là khách, và màu xanh là đệ tử của người ẩn sĩ. Trong thơ Đường nguyên bản bằng chữ vuông thì làm gì có được cái hình thức thể hiện rõ ràng như chúng ta đang có.
Bản dịch cho thấy 2đệtử rất “ba phải !” phải không quý vị?
02.- Theo tự điển tiếng Việt của Thanh Nghị thì đệ tử là người học trò, thật ra trong ngôn ngữ đời thường thì chữ đệtử [viết liền] là người học trò thân cận, có khi là lớp đàn em thân cận hiểu ý thầy, nó khác với từ học trò… Dĩ nhiên trong giới nhà Phật thì dùng chữ đệ tử [viết rời] thuần nghĩa theo định nghĩa trong các từ điển Hán Việt thông thường .
Để phân biệt tôi đề nghị chúng ta dùng ba từ chỉ người học trò:
Học trò, đệ tử [viết rời, Hán Việt] , đệtử [viết liền cho trường hợp đệ tử là từ thuần Việt]
Khi nào quý vị chấp nhận từ mới thì bạn thấy tiếng Việt chúng ta thật vô địch, và bài thơ dễ cảm nhận hơn, không biết quý vị ra sao?
03.- Ý kiến nhỏ của lạiquảngnam khi định nghĩa từ thuần Việt:
Một từ thuần Việt là từ mà người Việt Nam dùng một cách tự nhiên trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, bất luận trình độ học vấn, nên khi nói là hiểu ngay.
Bản dịch của người xưa
Bản dịch của Tản Đà
Tìm nhà ẩn đạt không gặp
Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa
Chỉ trong dãy núi đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?".
Ngày Nay số 84, Ngày 07-11-1937
Chuyển sang Anh ngữ, do ông trùm Robert Payne dịch
Searching for the hermit in vain
Under the pines I asked the boy,
“My master has gone gathering herbs”, he said.
“He is somewhere in the mountain,
Deep in the clouds where no one knows”
Chia Tao
Kẻ hậu sinh không biết hết nhà thơ Gia Đảo dùng chữ “đồng tử” để ám chỉ “nhân vật nào” khác chứ dịch là “đệtử, đệ tử, học trò” thì mạn phép lạm bàn như đã nêu trên.
LQN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét